- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ về ly hôn giữa ông Phạm Văn H và bà K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông Phạm Văn H được ly hôn với bà K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08/5/2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoài Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Thái Cao Bình
2/ Ông Nguyễn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoa Kim Cúc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lâm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 277/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/3/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H - Sinh năm: 1979
Địa chỉ: thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
2. Bị đơn: Bà K - Sinh năm: 1986
Địa chỉ: thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/9/2024, bản tự khai ngày 04/11/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Văn H trình bày:
Về yêu cầu ly hôn: Ông H và bà K tự nguyện kết hôn với nhau năm 2012 và được Ủy ban nhân dân xã S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2012, quyển số 01/2012 ngày 11/4/2012.
Năm 2018, ông H đi xuất khẩu lao động cho đến tháng 12/2023 về lại Việt Nam. Trong thời gian ông H đi làm ăn ở nước ngoài thì bà K gây nợ nần và có quan hệ bất chính với người khác. Ông H đã tha thứ và cho bà K cơ hội để sửa đổi nhưng bà K vẫn chứng nào tật nấy. Từ ngày 06/9/2024, bà K đã bỏ nhà đi nơi khác sinh sống cho đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Ông H nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống cùng nhau được nên ông H yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà K.
Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Ông H và bà K có 03 con chung là cháu Phạm Thị Quỳnh H sinh ngày 20/10/2012, cháu Phạm Thị Yến T1 sinh ngày 02/6/2015 và cháu Phạm Thu T2 sinh ngày 23/12/2016. Hiện nay các cháu H, T1, T2 đang sống cùng với ông H. Ông H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 con và không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con.
Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong qua trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn bà K không có mặt nên không xác định được ý kiến.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn ông Phạm Văn H đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn bà K không chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngày 03/10/2024, ông Phạm Văn H có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà K, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng tại phiên tòa vẫn vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về yêu cầu ly hôn: Ông Phạm Văn H và bà K tự nguyện kết hôn với nhau năm 2012 và được Ủy ban nhân dân xã S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2012, quyển số 01/2012 ngày 11/4/2012, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa ông H và bà K đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà K gây nợ nần và có quan hệ bất chính với người khác. Bà K đã bỏ nhà đi từ ngày 06/9/2024 cho đến nay và không có tin tức gì. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng bà K vẫn vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông H và bà K đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của ông Phạm Văn H là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Ông H và bà K có 03 con chung là cháu Phạm Thị Quỳnh H sinh ngày 20/10/2012, cháu Phạm Thị Yến T1 sinh ngày 02/6/2015 và cháu Phạm Thu T2 sinh ngày 23/12/2016. Hội đồng xét xử xét thấy các cháu H, T1, T2 đang sống cùng với ông H. Vì vậy, yêu cầu nuôi con của ông H là có căn cứ chấp nhận.
Ông H không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Ông H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5] Về án phí: Ông H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông Phạm Văn H được ly hôn với bà K.
2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:
- Giao cháu Phạm Thị Quỳnh H sinh ngày 20/10/2012, cháu Phạm Thị Yến T1 sinh ngày 02/6/2015 và cháu Phạm Thu T2 sinh ngày 23/12/2016 cho ông Phạm Văn H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông H không yêu cầu nên không xét.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Ông H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
4. Về án phí:
Ông Phạm Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008001 ngày 08/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm; ông H đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
6. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Cam Lâm; - THADS huyện Cam Lâm; - Các đương sự; - UBND xã Suối Tân; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hoài Tâm |