- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "T-T1"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14-4-2025 “V/v Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim ến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lệ Hoa
2. Ông Phạm Văn Tư
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim ến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
tham gia phiên tòa: Bà Phùng Kim Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 370/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồ Như T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số C, đường Đ, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người o vệ quy n v l i ch h p pháp của nguyên đơn ông T: Luật sư Phan Văn H, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh - Là Luật sư của Công ty L2 - Thuộc đoàn Luật sư tỉnh T (xác nhận số: 45/2024/XN-TA, ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long) (có mặt).
* Bị đơn: Bà Phan Thị Thùy T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số E, đường P, Phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: Số B, đường X, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người o vệ quy n v l i ch h p pháp của ị đơn T1:
1. Luật sư Trần Hoàng T2, sinh năm 1979; địa chỉ liên lạc: số F, đường P, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long - Là Luật sư của Văn phòng luật sư Trần Bá T3 - Thuộc đoàn Luật sư tỉnh V (Xác nhận số: 45A/2024/XN-TA, ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long)(vắng mặt)
2. Luật sư Trần Chính T4, sinh năm 1977; địa chỉ liên lạc: Số F, đường P, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long - Là Luật sư của Văn phòng luật sư Trần Bá T3 - Thuộc đoàn Luật sư tỉnh V (xác nhận số: 12/2025/XN-TA, ngày 11/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long) (có mặt)
NỘI DUNG V ÁN:
* T i ơn h i iện đ ng y 0 /10/202 v trong quá tr nh x t x , nguyên đơn ông Nguyễn Hồ Như T tr nh y:
Trước đây, ông T và bà T1 là vợ chồng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 21/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long. Theo Quyết định thuận tình ly hôn thì ông T giao con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 09/12/2012 cho cho bà Phan Thị Thùy T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/tháng cho đến khi Nguyễn Anh K đủ 18 tuổi; về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, còn thỏa thuận về hôn nhân, án phí và nghĩa vụ thăm nom con.
Trước khi ly hôn, ông T và bà T1 cùng con Anh K sống tại địa chỉ C Phường H, thành phố V (nhà của cha mẹ ông T). Sau khi ly hôn, Anh K vẫn sống với T và ông bà nội đến tháng 8/2024 thì T1 đem con về nhà T1 nuôi đến nay. Nguyên nhân ông T xin thay đổi nuôi con là con sống với ông T nhưng bà T1 yêu cầu cấp dưỡng; gia đình bà T1 và bà T1 gây áp lực cho ông T về việc yêu cầu chia tài sản. Khi bà T1 nhận con về nuôi thì bà T1 thường xuyên bỏ con không ngủ chung với con. Tuy nhiên, bà T1 cũng chăm sóc cho con tốt chưa có dấu hiệu gì về bạo lực gia đình, bà T1 vẫn cho ông T thăm nom con nhưng ông T nhận thấy ông T nuôi con tốt hơn đảm bảo quyền lợi cho con hơn; bà T1 có mối quan hệ bên ngoài không tốt cho con.
Hiện tại ông T làm ngành điện lực, nơi trụ sở làm việc tại phường C, thị xã B. Thời gian làm việc làm theo ca, mỗi ca trực 12 tiếng (nếu trực 12 tiếng ban ngày thì sẽ được nghỉ 24 tiếng; nếu trực 12 tiếng ban đêm thì được nghỉ 48 tiếng); thu nhập bình quân mỗi tháng là 12.615.000đồng, đủ điều kiện để nuôi con, ông T không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Hồ Như T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với con Nguyễn Anh K, sinh ngày 09/12/2012 từ bà Phan Thị Thùy T1 giao con lại cho ông T được trực tiếp nuôi dưỡng Anh K, ông T không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng.
* Trong quá tr nh gi i quyết v án ị đơn Phan Thị Thùy T1 tr nh y:
Bà T1 và ông T là vợ chồng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 21/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long. Theo Quyết định thuận tình ly hôn thì ông T giao con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 09/12/2012 cho bà Phan Thị Thùy T1 trực tiếp nuôi dưỡng; ông T cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/tháng cho đến khi Nguyễn Anh K đủ 18 tuổi là đúng.
Bà T1 không thống nhất việc ông T yêu cầu thay đổi nuôi con:
- Sau khi ly hôn từ ngày 30/01/2020, con Nguyễn Anh K là do bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, ông bà nội và ông T có năn nỉ bà T1 để cho con Anh K thường xuyên ở chơi với ông bà nội nên bà T1 đã tạo mọi điều kiện để con được hưởng tình thương từ ông bà cha mẹ. Bà T1 đã đồng ý cho Anh K thường xuyên đến ở cùng ông bà nội và ông T, nên bà T1 có thường xuyên để Anh K cho bà nội chăm sóc ăn uống, ngủ nghỉ, chơi đùa cùng ông bà; bà T1 vẫn là người trực tiếp quản lý thời gian sinh hoạt, nuôi dạy, theo dõi việc học, đưa rước trong thời gian Anh K sống cùng với ông bà nội và cuối tuần bà T1 rước con Anh K về sống cùng bà T1.
- Từ tháng 7/2024 đến nay con về sống với bà T1 vì ông T yêu cầu bà T1 cắt hộ khẩu ra khỏi số C, đường Đ, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long chuyển đi nơi khác thì bà T1 cắt hộ khẩu của bà T1 và Anh K chuyển về Phường D, thành phố V (nhà của cha mẹ bà T1); Bà T5 đã tạo mọi điều kiện cho ông T thăm nom con.
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 21/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long thì ông T phải cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/tháng nhưng từ khi có Quyết định đến nay ông T không cấp dưỡng nuôi con.
- Hiện nay bà T5 là Hiệu trưởng trường mầm non tại Phường A, thành phố V. Thời gian bà T5 rất đảm bảo để nuôi con, chăm sóc con tốt. Thu nhập bình quân bà T5 là 30.457.200đồng/tháng. Bản thân bà T5 chăm sóc cho con rất tốt từ việc ăn uống, sức khỏe đi lại, học tập của con. Bà T5 vẫn đảm bảo tốt quyền nuôi con nên việc ông T xin thay đổi nuôi con bà T5 không đồng ý.
* Trong quá tr nh gi i quyết v án Tòa án đã tiến h nh xác minh thu thập chứng cứ, gồm:
- Biên bản xác minh ngày 06/01/2025, tại Ủy ban nhân dân Phường H1, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đối với ông Hồ Thanh L và bà Nguyễn Thị K1, cũng như lời khai của bà Lương Thị L1 là những người sống gần nhà ông T và biết rõ quá trình chăm con của ông T và bà T5 cụ thể: Cháu Nguyễn Anh K thường xuyên sống và sinh hoạt tại nhà T cùng ông bà nội; ông bà nội chăm cháu rất tốt; bà T5 cũng thường xuyên đến chăm sóc, rước con Anh K đưa đi cùng; ông T làm việc xa nhà thỉnh thoảng mới đưa rước con đi học. Ngoài ra, ông L và bà K1 còn có ý kiến ông T hay bà T5 chăm sóc con rất tốt nên cháu Nguyễn Anh K sống với ông T hay bà T5 gì cũng đều tốt;
- Tại Văn bản ý kiến ngày 29/11/2024, của con Nguyễn Anh K, trình bày: Cha mẹ đều chăm sóc cho Anh K rất tốt; ông, bà nội và ông bà ngoại đều rất thương yêu Anh K. Nhưng Anh K có nguyện vọng được sống chung với mẹ T5.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
- Luật sư Phan Văn H l người o vệ quy n v l i ch h p pháp nguyên đơn ông Nguyễn Hồ Như T trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chứng cứ nguyên đơn đã nộp và lời trình bày của ông T tại phiên tòa. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hồ Như T theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình để thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, buộc bà Phan Thị Thùy T1 giao con Nguyễn Anh K, sinh ngày 09/12/2012 cho ông Nguyễn Hồ Như T trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con.
- Ông T thống nhất lời trình bày Luật sư H, ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với con Nguyễn Anh K, sinh ngày 09/12/2012 từ bà Phan Thị Thùy T1 giao con lại cho ông Nguyễn Hồ Như T được trực tiếp nuôi dưỡng Anh K đến tuổi trưởng thành, ông T không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Luật sư Trần Ch nh T l người o vệ quy n v l i ch h p pháp ị đơn
bà Phan Thị Thùy T1 trình bày: Không thống nhất lời bảo vệ của Luật sư Phan Văn H. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên quyền nuôi con của bà Phan Thị Thùy T1, bà T1 được tiếp tục, trực tiếp nuôi con Nguyễn Anh K vì chứng cứ nguyên đơn đưa ra chưa đủ cơ sở chứng minh bà T1 không còn đủ điều kiện để trực tiếp trông nom để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Căn cứ Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bà T1 vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con Nguyễn Anh K, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồ Như T.
- Bà T1 thống nhất ý kiến Luật sư T4, bà T1 không thống nhất việc ông T yêu cầu thay đổi nuôi con. Bà T1 chăm sóc nuôi dạy con rất tốt, bà T1 luôn tạo điều kiện cho ông T thăm nom, chăm sóc con; bà T1 có công việc ổn định, thu nhập đảm bảo lo cho con có cuộc sống tốt. Việc ông T vu khống bà T1 có quan hệ bất chính với người có gia đình, bà T1 sẽ khởi kiện ông T bằng một vụ kiện khác.
* iến phát i u của Ki m sát viên:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật từ khi thụ lý đơn kiện cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện tốt.
Đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTV-QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về nội dung:
Đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồ Như T. Tiếp tục giao Nguyễn Anh K, sinh ngày 09/12/2012 cho bà Phan Thị Thùy T1 nuôi dưỡng.
Về án phí: Ông Nguyễn Hồ Như T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng.
Các đương sự không xuất trình chứng cứ gì mới tại phiên tòa;
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xác định đây là vụ kiện “Tranh chấp v thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” được quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân thành phố V theo quy định tại khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Hồ Như T, Luật sư Phan Văn H là người bảo vệ quyền và lợi pháp của ông T; bị đơn bà Phan Thị Thùy T1, Luật sư Trần Chính T4 là người bảo vệ quyền và lợi pháp của bà T1 đều có mặt. Riêng Luật sư Trần Hoàng T2 vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Căn cứ vào Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 21/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long thì ông Nguyễn Hồ Như T giao con chung tên Nguyễn Anh K, sinh ngày 09/12/2012 cho bà Phan Thị Thùy T1 nuôi dưỡng, ông T phải cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/tháng cho đến khi Nguyễn Anh K đủ 18 tuổi.
Ông Nguyễn Hồ Như T có đơn kiện đề ngày 07/10/2024 khởi kiện bà Phan Thị Thùy T1 yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn vì ông T cho rằng bà T1 không còn đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Anh K. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Thứ nhất, sau khi ly hôn, ông T vẫn là người trực tiếp nuôi con đến tháng 07/2024, bà T1 muốn phân chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân nên đặt áp lực và kiếm chuyện rước con đi vào cuối tháng 07/2024; ông T đóng bảo hiểm nhân thọ hàng năm cho con, quan tâm việc học của con.
X t thấy, sau khi có quyết định ly hôn bà T1 vẫn tạo điều kiện để Anh K thường xuyên sống cùng ông bà nội và ông T, không cấm đoán việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con để con được hưởng quyền lợi từ ông, bà, cha, mẹ và bà T1 không lơ là trong việc chăm sóc giáo dục, quản lý con; ông T cũng rất quan tâm con, thường xuyên chăm sóc đưa rước con đi chơi và chăm lo quyền lợi mọi mặt cho con. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, cả ông T và bà T1 đều chăm sóc con rất tốt, đảm bảo quyền lợi cho con về mọi mặt, đảm bảo quyền nuôi con là phù hợp với lời khai của những người ông T yêu cầu xác minh ông Hồ Thanh L và bà Nguyễn Thị K1, bà Lương Thị L1 là những người sống gần nhà ông T;
Thứ hai, ông T cho rằng ông T trực tiếp nuôi con nhưng bà T1 yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng ông T không đồng ý;
X t thấy, về nghĩa vụ chăm lo đối với con là cha, mẹ đều có trách nhiệm chăm lo để con được hưởng quyền được chăm sóc tốt nhất từ cha, mẹ. Bà T1 yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 21/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long là phù hợp với Điều 107, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình. Trường hợp, ông T có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng thì khởi kiện yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con theo quy định pháp luật.
Thứ a, ông T cho rằng bà T1 đang có mối quan hệ không đúng đắn với người đã có gia đình nên không đủ tư cách giáo dục con và ông T có cung cấp hình ảnh và các chứng cứ khác như vi bằng.
X t thấy, đối với mối quan hệ của bà T1 thì ông T và bà T1 đã ly hôn, bà T1 hoặc ông T vẫn có quyền có cuộc sống hôn nhân mới, ông T cho rằng bà T1 đang có mối quan hệ không đúng đắn với người đã có gia đình nên không đủ tư cách giáo dục con nhưng chưa cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận để xem xét điều kiện để thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Thứ , về điều kiện trực tiếp nuôi con và thu nhập nuôi con, cụ thể: Hiện nay, ông T làm ngành điện lực, nơi trụ sở làm việc tại phường C, thị xã B, thời gian làm việc theo ca, có trực đêm nhưng ông T được cha mẹ ông T hỗ trợ chăm sóc Anh K; thu nhập bình quân mỗi tháng là 12.615.000đồng, đủ để nuôi con, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con; Hiện nay bà T1 làm Hiệu trưởng Trường mầm non H, địa chỉ số B đường X, Phường A (địa chỉ cũ là Phường B). Thời gian bà T1 rất đảm bảo để chăm sóc, nuôi dạy con. Thu nhập bình quân 30.457.200đồng/tháng.
X t thấy, về điều kiện trực tiếp nuôi con và thu nhập nuôi con thì ông T và bà T1 đều đảm bảo chăm sóc nuôi con tốt. Tuy nhiên, bà T1 chỉ làm việc giờ hành chính, là giáo viên, được sự hỗ trợ từ ông, bà nội và ông, bà ngoại của Anh K nên giao con cho bà T1 nuôi thì tốt hơn.
Thứ 5, biên bản ghi lời khai ngày 29/11/2024 đối với Nguyễn Anh K sinh ngày 09/12/2012 tại Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, K khai: Hiện tại K đang sống cùng mẹ T1 tại Phường B (nay Phường A), thành phố V; K đang học Trường L3 tại Phường A, thành phố V hàng ngày đi học do mẹ và ông ngoại đưa rước; khi K muốn về nhà ông, bà nội với cha T chơi mẹ T1 đều đồng ý; cha T và mẹ T1 chăm sóc cho K rất tốt. Nhưng cha T và mẹ T1 không sống chung, K có nguyện vọng được sống với mẹ
X t thấy, K cảm nhận được tình thương từ ông, bà, cha, mẹ, nhưng K có nguyện vọng được sống cùng mẹ T1, khi ông T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Anh K trên 7 tuổi. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình khi xem xét việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi trở lên, Anh K có nguyện vọng được sống với mẹ T1 nên giao con cho bà T1 nuôi dưỡng là đảm bảo nguyện vọng của Anh K;
Từ những phân t ch nêu trên cho thấy yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông Nguyễn Hồ Như T v đ nghị của người o vệ quy n v l i ích h p pháp của ông T l chưa đủ cơ s đ Hội đồng x t x chấp nhận. Hội đồng x t x x t thấy: Ông Nguyễn Hồ Như T và bà Phan Thị Thùy T1 quan tâm thương yêu chăm sóc con chung Nguyễn Anh K rất tốt; về điều kiện chăm sóc thì ông T và bà T1 đều có việc làm và thu nhập ổn định đảm bảo nuôi con, tuy nhiên, về tính chất đặt thù công việc thì giao con cho bà T1 chăm sóc là đảm bảo hơn lại phù hợp với nguyện vọng của con Nguyễn Anh K; bà T1 vẫn đảm bảo cho ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Ông T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con nhưng chưa cung cấp được tài liệu, chứng cứ, chứng minh việc người trực tiếp nuôi con bà T1 không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do đó, giao con Nguyễn Anh K cho bà T1 tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi cho con.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp và có căn cứ theo quy định pháp luật.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là chưa có cơ sở chấp nhận.
[5] Xét ý kiến của bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Hồ Như T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luât.
V các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; căn cứ khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết: 326 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về nội dung:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hồ Như
T đối với bị đơn bà Phạm Thị Thùy T6 về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con Nguyễn Anh K sau khi ly hôn.
2. Về án phí:
Buộc ông Nguyễn Hồ Như T chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo Biên lai số 00007353 ngày 24/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long. Ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Bà Phạm Thị Thùy T6 không phải nộp tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ sau ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA
- Các đương sự;
- THADS TPVL;
- VKSND TPVL;
- TAND tỉnh VL;
- U, TPVL;
- Lưu VT, hồ sơ vụ án.
Đoàn Thị Kim Yến THÀNH VI N HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ T A PHI N TÒA 1/ ........................................ 2/ .........................................
................................................. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG
Độc lập
- Tự do - Hạnh phúc
BI N B N NGH ÁN
Vào hồi .. giờ .. phút, ngày 04 tháng 01 năm 2024;
Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long;
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quang Đ;
2. Ông Phạm Văn T7.
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 320/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2023 về “Tranh chấp Xin ly hôn” giữa:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Anh T8, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số H, Đường H, Khóm E, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin xét xử vắng mặt);
* Bị đơn: Ông Trần Huy C, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số H, Đường H, Khóm E, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Căn cứ v o t i liệu, chứng cứ đã đư c xem x t t i phiên tòa, ết qu tranh t ng t i phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TH O LU T, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT Đ NH CÁC V N ĐỀ CỦA V ÁN NHƯ SAU:
Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3, quyết định:
Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014; căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về nội dung:
1.1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Hoàng Anh T8 và ông Trần Huy C.
1.2. Về nuôi con chung: Bà T8 và ông C có một người con chung là Trần Anh K2, sinh ngày 21/7/2012, giao cho bà T8 trực tiếp nuôi dưỡng con; ông C không cấp dưỡng nuôi con;
Sau khi ly hôn ông C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung thì bà T8 có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con.
1.3. Về chia tài sản chung: Không đặt ra giải quyết; nợ chung: Không có.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng Anh T8 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu số N0 0002268 ngày 25/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long. Bà T8 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ sau ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nghị án kết thúc vào hồi .. giờ
phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử
cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VI N HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ T A PHI N TÒA
1/ ....................................
2/ ...................................
........................
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA
- Các đương sự;
- THADS TPVL;
- VKSND TPVL;
- TAND tỉnh VL;
- UBND Phường 5, TPVL;
- Lưu VT, hồ sơ vụ án.
Đoàn Thị Kim Yến
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS TPVL; - VKSND TPVL; - TAND tỉnh VL; - UBND Phường 5, TPVL; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN 1/ .................................... 2/ ................................... | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA Đoàn Thị Kim Yến THẨM PHÁN-CHỦ T A PHI N TÒA ........................ |