- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S và anh Đặng Văn N1"
- Tòa quyết gì? Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
- Căn cứ chính? Thông tư số 28/2019/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Thông tư số 26/2017/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Thông tư số 17/2021/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/DS-ST Ngày: 15 - 5 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hùng.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Phương Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 224/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2025/QĐST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; địa chỉ trụ sở Số B - B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm 1973; địa chỉ làm việc Số B - B, đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần S - Vắng mặt).
2. Ông Huỳnh Nghĩa N, sinh năm 1980; địa chỉ làm việc Số A, Tổ A, đường P, Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số: 3525/2023/QĐ-PC ngày 25 tháng 12 năm 2023 và Văn bản ủy quyền số: 4039/2024/QĐ-PC ngày 27 tháng 12 năm 2024 - Vắng mặt).
3. Anh Võ Minh T, sinh năm 1996; địa chỉ làm việc Số A, Tổ A, đường P, Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là người đại diện của nguyên đơn theo ủy quyền lại của ông Huỳnh Nghĩa N (Văn bản ủy quyền số: 25/2024/UQ-PGDTB ngày 23 tháng 02 năm 2024 - Có mặt).
- Bị đơn: Anh Đặng Văn N1, sinh năm 1987; địa chỉ Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại các đơn khởi kiện ngày 23 tháng 02 năm 2024, ngày 06 tháng 11 năm 2024 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S và trong quá trình xét xử, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Võ Minh T trình bày:
Ngày 08/4/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng S) cùng với anh Đặng Văn N1 ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số: 1972209 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, kèm theo bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S có hiệu lực ngày 22/4/2021 - các văn bản này được gọi chung là hợp đồng tín dụng) với nội dung:
Ngân hàng S đồng ý cấp cho anh N1 thẻ tín dụng loại thẻ JCB Classic, với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng; mục đích giao dịch (mua hàng, thanh toán hàng hóa) tiêu dùng cá nhân và rút tiền mặt; thời hạn sử dụng thẻ đến tháng 4/2027; lãi suất thỏa thuận tại thời điểm mở thẻ là 2,77%/tháng và có thay đổi theo từng thời kỳ của ngân hàng, lãi phát sinh trên tài khoản được tính tương ứng với từng giao dịch mua hàng hóa hoặc giao dịch rút tiền mặt và giao dịch tương đương rút tiền mặt; bên cạnh lãi suất chủ thẻ còn phải trả các loại phí liên quan đến thẻ theo mức phí quy định tại Biểu phí hiện hành hoặc Biểu phí mới (khi mức phí thay đổi, có hiệu lực) được công bố trên trang website tại địa chỉ “www.S1.com.vn” hoặc tại bất kỳ chi nhánh, phòng giao dịch của Ngân hàng S, tất cả các phí được ghi vào tài khoản của chủ thẻ ngay lập tức hay vào thông báo giao dịch kỳ tiếp theo tùy từng trường hợp; việc thanh toán đối với các khoản dư nợ theo thứ tự như sau: (i) các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước, (ii) giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt của kỳ trước, (iii) giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến của kỳ trước, (iv) các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, (v) giao dịch rút tiền mặt/tương đương rút tiền mặt trong kỳ, (vi) giao dịch mua hàng hóa/thanh toán thẻ trực tuyến; ngày chốt thông báo giao dịch vào ngày 15 hàng tháng; trường hợp chủ thẻ vi phạm nghĩa vụ không thanh toán số tiền tối thiểu của kỳ thông báo giao dịch đã phát hành cho đến kỳ thông báo giao dịch tiếp theo thì Ngân hàng S sẽ tạm ngưng hoặc chấm dứt quyền sử dụng thẻ của chủ thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn, tính lãi quá hạn bằng 150% lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm quá hạn trên toàn bộ dư nợ, không tính các loại phí và tiến hành các biện pháp cần thiết để thu toàn bộ nợ.
Thực hiện hợp đồng tín dụng: Ngày 08/4/2022, Ngân hàng S phát hành và cấp cho anh N1 thẻ tín dụng loại JCB Classic, số thẻ 356480-9443, hạn mức sử dụng 30.000.000 đồng. Ngày 15/4/2022, anh N1 kích hoạt thẻ thực hiện giao dịch. Kể từ ngày kích hoạt thẻ giao dịch đến ngày 15/6/2023, anh N1 thanh toán đầy đủ số tiền theo thông báo giao dịch hàng tháng. Sau đó, anh N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thông báo giao dịch trong 04 kỳ liên tiếp từ ngày 15/7/2023 đến ngày 15/10/2023. Mặc dù, trong thời gian này Ngân hàng S đã nhiều lần làm việc nhắc nhở yêu cầu anh N1 thanh toán các khoản dư nợ theo thứ tự thanh toán quy định tại Điều 18 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, nhưng anh N1 không thực hiện. Căn cứ quy định tại Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngày 15/10/2023 Ngân hàng S đã tạm khóa quyền sử dụng thẻ của anh N1, chuyển toàn bộ dư nợ 34.931.868 đồng sang nợ quá hạn, tính lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và thu hồi nợ. Tính đến ngày 15/5/2025, anh N1 nợ Ngân hàng S tổng cộng số tiền 62.855.626 đồng (Trong đó: nợ gốc 34.931.868 đồng; nợ lãi quá hạn 27.923.758 đồng).
Nay, Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh N1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng S số tiền 62.855.626 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng được tính kể từ ngày 16/5/2025 cho đến khi trả xong nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm:
Anh Đặng Văn N1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đều vắng mặt tại các phiên họp, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh N1 được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do chính đáng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có vi phạm. Riêng bị đơn anh N1 không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã được Kiểm sát viên nhận định, phân tích, cùng với điều luật viện dẫn đề nghị áp dụng như trong Phát biểu. Đề nghị Tòa án giải quyết:
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S. Buộc anh N1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng S nợ vay tính đến ngày 15/5/2025 số tiền 62.855.626 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng. Thời điểm trả lãi tiếp theo được tính kể từ ngày 16/5/2025 cho đến khi anh N1 trả xong nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh N1 phải chịu án phí số tiền 3.142.781 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng (hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng hay hợp đồng tín dụng về hoạt động thẻ ngân hàng) thuộc loại vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.
Về thủ tục xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N1 theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
Về áp dụng pháp luật: Xét thời điểm xác lập, thực hiện, phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa các bên đương sự được Tòa án thụ lý, giải quyết như nhận định tại các mốc đơn [2], [3] “Về nội dung” diễn ra qua nhiều thời kỳ pháp luật về ngân hàng có quy định khác nhau. Căn cứ vào khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020; khoản 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 (gọi chung là Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010) và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 là Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N2 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số: 26/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017, Thông tư số: 28/2019/TT-NHNN ngày 25/12/2019 và Thông tư số: 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Thống đốc Ngân hàng N2 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (gọi chung là Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN) để giải quyết.
Xét việc Ngân hàng S và anh N1 thỏa thuận xác lập, thực hiện quan hệ cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản thẻ ngân hàng thông qua hoạt động phát hành và sử dụng thẻ tín dụng loại JCB Classic, với hạn mức sử dụng 30.000.000 đồng; mục đích sử dụng thẻ dùng vào giao dịch tiêu dùng cá nhân và rút tiền mặt; có thỏa thuận về lãi suất, cách tính lãi suất, các loại phí dịch vụ thẻ theo Biểu phí đã được công bố, niêm yết công khai, thứ tự ưu tiên thanh toán và thời hạn thanh toán, về số tiền tối thiểu và số lần chủ thẻ vi phạm nghĩa vụ thanh toán sẽ bị tạm ngưng hoặc chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển nợ quá hạn, thu nợ là đúng quy định tại khoản 14 và khoản 15 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 94, điểm d khoản 3, khoản 4, khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; các khoản 1, 3, 11 và 24 Điều 3, khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 9, các khoản 1, 4 và 5 Điều 10, khoản 1 Điều 13, khoản 1 Điều 14, khoản 1 và khoản 3 Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 16 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN.
Trong quá trình sử dụng thẻ, anh N1 đã vi phạm nghĩa vụ không thanh toán số tiền tối thiểu theo thông báo giao dịch trong 04 kỳ liên tiếp từ ngày 15/7/2023 đến ngày 15/10/2023. Do đó, ngày 15/10/2023 Ngân hàng S tạm khóa quyền sử dụng thẻ của anh N1, chuyển toàn bộ dư nợ số tiền 34.931.868 đồng sang nợ quá hạn, tính lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và thu hồi nợ quá hạn, khởi kiện yêu cầu anh N1 trả nợ tính đến ngày 15/5/2025 số tiền 62.855.626 đồng (Trong đó: nợ gốc 34.931.868 đồng; nợ lãi quá hạn 27.923.758 đồng) và tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp tín dụng được tính kể từ ngày 16/5/2025 cho đến khi trả xong nợ là đúng quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; điểm k khoản 1 Điều 13, khoản 2 Điều 17 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN.
Từ những phân tích và điều luật viện dẫn áp dụng như nhận định tại các mốc đơn [1], [2] “Về tố tụng” và các mốc đơn [1], [2], [3] “Về nội dung”, Tòa án chấp nhận ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S giải quyết theo hướng đã nhận định như trên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án giải quyết anh N1 phải nộp án phí tính tròn số tiền 3.142.781 đồng, hoàn trả cho Ngân hàng S được nhận lại số tiền 750.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án.
- Áp dụng khoản 2 Điều 17 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng N2 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số: 26/2017/TT-NHNN ngày 29 tháng 12 năm 2017, Thông tư số: 28/2019/TT-NHNN ngày 25 tháng 12 năm 2019 và Thông tư số: 17/2021/TT-NHNN ngày 16 tháng 11 năm 2021 của Thống đốc Ngân hàng N2 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.
Tuyên xử:
1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
1.1. Buộc anh Đặng Văn N1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 62.855.626 (Sáu mươi hai triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi sáu) đồng.
1.2. Buộc anh Đặng Văn N1 có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký ngày 08 tháng 4 năm 2022, kèm theo Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng có hiệu lực ngày 22 tháng 4 năm 2021 cho Ngân hàng thương mại cổ phần S. Thời điểm trả lãi tiếp theo được tính kể từ ngày 16 tháng 5 năm 2025 cho đến khi anh N1 trả xong nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Buộc anh Đặng Văn N1 phải nộp án phí số tiền 3.142.781 (Ba triệu một trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm tám mươi mốt) đồng.
2.2. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền 750.000 (Bảy trăm năm mươi nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số No 0014718 ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Vụ án được xét xử công khai. Có mặt anh Võ Minh T; vắng mặt bà Nguyễn Đức Thạch D, ông Huỳnh Nghĩa N, anh Đặng Văn N1. Báo cho bà D, ông N biết có quyền đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần S kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Báo cho anh N1 biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn nêu trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long: 02; - VKSND huyện Tam Bình: 02; - Chi cục THADS huyện Tam Bình: 01; - ĐD.NĐ + BĐ: 04; - Lưu hồ sơ vụ án: 01; - Lưu án văn: 06. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Cao Minh Tân |