- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tu ên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt t i sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/HSST Ngày 13-3-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Ngu n Hải Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Đình Tuấn;
Ông Ma Thanh Trọng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Duy Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hưng - Kiểm sát viên.
Ng 13 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST-HS, ng 20 tháng 02 năm 2024 theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ng 01 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:
Vũ Văn T, tên gọi khác: Không có; sinh ng 13 tháng 01 năm 1986 tại tại tỉnh Bắc Giang; căn cước công dân số: 024086002693 cấp ng 21 tháng 4 năm 2021, nơi cấp Cục cảnh sát quản lý h nh chính v trật tự xã hội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã T, th nh phố B, tỉnh Bắc Giang; nơi ở hiện tại: Số nh G, tổ D, khối A, thị trấn C, hu ện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn T1 và bà Ngô Thị T2; vợ: Bế Thị K, con: 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm h nh chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Chị Hoàng Thùy T3, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số B, đường B, phường H, th nh phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Bế Thị K, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ D, khối A, thị trấn C, hu ện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 06/2019, bị cáo Vũ Văn T lên th nh phố L, tỉnh Lạng Sơn v thuê một cửa h ng tại địa chỉ tổ D, khối A, thị trấn C, hu ện C, Lạng Sơn để kinh doanh nhôm kính. Qua mạng xã hội facebook, Vũ Văn T có quen biết với chị Hoàng Thùy T3, sinh năm 1989, trú tại số nh B đường B, phường H, th nh phố L. Đến ng 09/8/2022, chị Hoàng Thùy T3 liên hệ với Vũ Văn T để đặt đơn h ng l m lan can nhôm đúc tại số nh B, đường B, phường H, th nh phố L và được Vũ Văn T đồng ý. Đến trưa ng 09/8/2022, Vũ Văn T đến nh của chị Hoàng Thùy T3 ở địa chỉ trên để đo đạc lan can. Vũ Văn T liên hệ với một cửa h ng ở Nam Định để tham khảo giá v báo giá cho chị Hoàng Thùy T3 chi phí lắp lan can gồm cả tiền lan can v tiền công l 31.000.000 đồng.
Cùng ngày 09/8/2022, Vũ Văn T nả sinh ý định chiếm đoạt t i sản của Hoàng Thùy T3 nên đã êu cầu chị Hoàng Thùy T3 đặt cọc số tiền 15.000.000 đồng để Vũ Văn T chu ển cho cơ sở sản xuất nhôm kính, hẹn 10 ng sẽ lắp lan can cho chị Hoàng Thùy T3 nhưng thực tế Vũ Văn T không đặt h ng. Chị Hoàng Thùy T3 chu ển khoản số tiền trên cho Vũ Văn T, nga sau khi nhận được tiền, Vũ Văn T rút số tiền trên v sử dụng v o mục đích cá nhân hết.
Khoảng tháng 10/2022, không thấ Vũ Văn T đến lắp lan can, chị Hoàng Thùy T3 liên lạc với Vũ Văn T để hỏi. Lúc n , Vũ Văn T sử dụng hình ảnh lan can có sẵn trong má để gửi cho chị Hoàng Thùy T3 để cho chị Hoàng Thùy T3 tin tưởng. Đến khoảng tháng 12/2022, Vũ Văn T nghỉ l m, tắt má v chu ển chỗ trọ, không liên lạc lại với chị Hoàng Thùy T3. Sau nhiều lần không liên lạc được với Vũ Văn T, ng 05/12/2023 chị Hoàng Thùy T3 nộp đơn tố cáo h nh vi lừa đảo chiếm đoạt t i sản của Vũ Văn T đến Công an th nh phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 18/12/2023, Vũ Văn T đến Công an th nh phố L, tỉnh Lạng Sơn đầu thú về h nh vi phạm tội của bản thân. Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS, ng 19/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tru tố bị cáo Vũ Văn T về tội Lừa đảo chiếm đoạt t i sản theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận h nh vi tội Lừa đảo chiếm đoạt t i sản như bản Cáo trạng nêu, mục đích chiếm đoạt t i l để có tiền tiêu s i cho bản thân. Bị cáo khai bố bị cáo l ông Vũ Văn T1 được tặng Kỷ niệm chương Chiến trường K khi tham gia trong quân đội, nhưng không biết nộp t i liệu cho Tòa án từ trước ng xét xử, tại phiên tòa người nh bị cáo nộp 01 bản in từ điện thoại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Bị hại Hoàng Thùy T3 khai di n bi n vụ việc như bị cáo khai tại phiên tòa, chị Hoàng Thùy T3 đã được chị Bế Thị K l vợ của bị cáo trả cho số tiền 15.000.000 đồng, na không có êu cầu bồi thường thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Bế Thị K vắng mặt, tại đơn xin xét xử vắng mặt chị trình b được giúp bị cáo Vũ Văn T trả cho chị Hoàng Thúy T4 15.000.000 đồng; chị không êu cầu bị cáo trả lại số tiền n .
Đại diện Viện kiểm sát đánh giá đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội như Cáo trạng tru tố, nên giữ ngu ên kết luận tru tố v đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tu ên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt t i sản; xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù. Bị cáo không có nghề nghiệp, không có t i sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung l phạt tiền. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng sung ngân sách Nh nước.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Vợ bị cáo Vũ Văn T đã bồi thường số tiền 15.000.000 đồng cho chị Hoàng Thùy T3, chị Hoàng Thùy T3 không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.
Phần thủ tục tranh luận, bị cáo Vũ Văn T nhất trí với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát v không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo nhận biết h nh vi lừa đảo chiếm đoạt t i sản l sai phạm, hiện na vợ bị cáo sắp sinh con thứ hai, con đầu còn nhỏ, bị cáo mong được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về để giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về h nh vi, qu ết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tru tố đã thực hiện đúng về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục qu định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, qu ết định của người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, qu ết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin xét xử vắng mặt, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến h nh xét xử vụ án theo qu định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo phù hợp với t i liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, có căn cứ xác định: Ngày 09/8/2022 Vũ Văn T đưa ra thông tin l m được lan can nhôm đúc nhanh thì cần đặt cọc số tiền 15.000.000 đồng chu ển cho cơ sở sản xuất nhôm kính để chị Hoàng Thùy T3 tin tưởng v giao tiền để Vũ Văn T làm lan can. Ngay sau khi nhận được tiền Vũ Văn T đã chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng của chị Hoàng Thùy H, mục đích để tiêu sài cá nhân.
Với h nh vi trên, việc tru tố của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo l có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậ , có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt t i sản, tội phạm v hình phạt được qu định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Để qu ết định mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá các căn cứ qu ết định hình phạt theo qu định tại khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Hình sự như sau:
Bị cáo nhận thức được h nh lừa đảo chiếm đoạt t i sản l h nh vi gâ ngu hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền tiêu s i m bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. H nh vi phạm tội của bị cáo gâ ra l ngu hiểm cho xã hội, xâm phạm đến qu ền sở hữu t i sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an to n xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị khởi tố bị cáo đã ra đầu thú. Quá trình điều tra vụ án v tại phiên tòa bị cáo th nh khẩn khai báo về h nh vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo phạm tội lần đầu v thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã tác động gia đình v gia đình bị cáo đã trả to n bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt cho bị hại v được bị hại viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với tình tiết bố đẻ bị cáo l ông Vũ Văn T1 được tặng Kỷ niệm chương Chiến trường K, tại phiên tòa người nh bị cáo nộp 01 bản in từ điện thoại, nội dung ghi trong văn bản nộp thể hiện ông Vũ Văn T1 được Ban liên lạc đồng đội chiến trường Campuchia tặng kỷ niệm chương do l cựu quân tình ngu ện Việt Nam cùng quân v dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng; văn bản n không đủ căn cứ cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tu nhiên khi qu ết định mức hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét.
Về nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, được đánh giá có nhân thân tốt.
Đánh giá các căn cứ qu ết định hình phạt như trên, thấ cần thiết xử lý nghiêm minh h nh vi phạm tội của bị cáo, phạt mức án tương xứng với h nh vi phạm tội, cách l bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục v đáp ứng êu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có t i sản riêng, không đứng tên trên t i sản có giá trị, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung l phạt tiền. [12] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã được vợ bị cáo trả lại đủ số tiền chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường thêm. Chị B thị K không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền đã bồi thường thay bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bị cáo l người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nh nước theo qu định tại khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.
Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Bị cáo, bị hại, người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có qu ền kháng cáo bản án theo qu định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ng 30/12/2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án. Xử:
1. Tội danh: Tu ên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt t i sản.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ng bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 18/12/2023.
3. Án phí: Buộc bị cáo Vũ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng nộp ngân sách Nh nước.
4. Qu ền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có qu ền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng , kể từ ng tu ên án; người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có qu ền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến qu ền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ng , kể từ ng nhận được bản án hoặc ng bản án được niêm ết.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS Công an tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP Lạng Sơn, T Lạng Sơn; - CA TP Lạng Sơn, T Lạng Sơn (02 bản); - Chi cục THADS TP Lạng Sơn, T Lạng Sơn; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Dƣơng Đình Tuấn Ma Thanh Trọng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Ninh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Ninh |