- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị L Th Th được ly hôn với anh Ng V H.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/5/2024 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D- TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Quang
Ông Lương Khăm Niên
- Thư ký phiên tòa: Lê Thị Thảo- Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Trần Hoàng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 105/2023/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị L Th Th, sinh năm 1998 (Có đơn xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Bản Th L, xã Th S, huyện Th Ch, tỉnh Nghệ An.
2. Bị đơn: Anh Ng V H, sinh năm 1995 (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
Địa chỉ: Bản X, xã H Kh, huyện T D, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 09/10/2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị L Th Th trình bày:
- Về tình cảm: Chị L Th Th và anh Ng V H tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2015. Chị Th và anh H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H Kh, huyện T D, tỉnh Nghệ An vào ngày 30 tháng 11 năm 2017 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do, anh H nghi ngờ chị Th có mối quan hệ với người đàn ông khác nên thường xuyên rượu chè gây sự với chị, mỗi lần anh H uống rượu về là hành hạ, ngược đãi chị cả thể chất lẫn tình thần, bản thân chị đã cố gắng chịu đựng để con cho cả cha lẫn mẹ nhưng anh H ngày càng đối xử thậm tệ, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, sức chịu đựng có hạn nên vào năm 2017 chị Th quyết định sống ly thân với anh H. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị Th có nguyện vọng ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc.
- Về con chung: Chị Th và anh H có 01 con chung là cháu Ng Th Nh Y, sinh ngày 02/8/2015 hiện nay cháu đang sống với ông bà nội và anh H tại Bản X, xã H Kh, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Từ năm 2017 khi chị Th quyết định sống ly thân với anh H thì bố mẹ đẻ anh H không cho chị Th đưa con đi theo và cháu chủ yêu là do ông bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng, bản thân anh H cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con. Hiện nay anh H đi làm ăn xa, nên giao cháu cho ông Ngân Vân Min và bà V Th A, ông bà hiện nay đã ngoài 50 tuổi, ông thường xuyên ốm đau, điều kiện chăm sóc cháu không được đảm bảo. Nên nếu ly hôn chị Th có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hoà giải hợp lệ cho anh Ng V H theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh H đều vắng mặt, vụ án không tiến hành hoà giải được do sự vắng mặt của bị đơn Ng V H. Nguyên đơn chị L Th Th vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Ng V H nên Toà án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Kết quả xác minh tại địa phương thì anh Ng V H có hộ khẩu thường trú tại Bản X, xã H Kh, huyện T D, tỉnh Nghệ An có vợ là chị L Th Th và có 01 con chung là cháu Ng Th Nh Y, sinh ngày 02/8/2015 hiện cháu đang sống với ông Ng V M, bà V Th A, anh Ng V H. Chị L Th Th, trú tại bản Th L, xã Th S, huyện Th Ch, tỉnh Nghệ An đến sinh sống tại Bản X, xã H Kh, huyện T D, tỉnh Nghệ An từ năm 2015 đến năm 2017 chị Th đi khỏi địa phương chưa quay lại lần nào. Chị L Th Th không thường xuyên thăm nom, chăm sóc cháu Ng Th Nh Y. Anh Ng V H hiện nay đi làm công nhân ở Vũng Tàu. Anh H thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại và thỉnh thoảng anh H vẫn về nhà, anh H là người trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng cháu Ng Th Nh Y.
Kết quả xác minh tại trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học H Kh, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì cháu Ng Th Nh Y hiện đang sống với bố Ng V H, bà V Th A, ông Ng V M, cháu Ý đi học chuyên cần, không vắng học. Các khoản đóng góp thì ông Ng V M, bà V Th A đóng góp cho cháu Ng Th Nh Y. Học lực của cháu thuộc diện hoàn thành.
Tại bản tự khai ngày 15/11/2023 cháu Ng Th Nh Y con chung của chị L Th Th và anh Ng V H: Cháu Ng Th Nh Y có nguyện vọng sống với anh Ng V H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn, bị đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn chị L Th Th cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân cho chị L Th Th được ly hôn với anh Ng V H; Con Chung: giao cháu Ng Th Nh Y, sinh ngày 02/8/2015 cho anh Ng V H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị Th; Tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Án phí: chị Th chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng và các lời khai của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
Thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh Ng V H có hộ khẩu thường trú tại Bản X, xã H Kh, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị L Th Th và bị đơn anh Ng V H thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An. Bị đơn được triệu tâp hợp lệ lần thứ hai không vì trường hợp bất khả kháng, trở ngại khách quan nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh H kết hôn với nhau vào năm 2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được Ủy ban nhân dân xã H Kh, huyện T D, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 129 ngày 30/11/2017 vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Nội dung:
Tình cảm: Chị Th và anh H trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do quan điểm sống khác nhau, anh H thường xuyên chưởi bới, xúc phạm chị Th thậm tệ, thiếu tin tưởng chị Th và đã sống ly thân với nhau từ năm 2017, chị Th cũng thừa nhận, chị không còn tình cảm với anh H, không muốn tiếp tục chung sống với anh H và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống, hôn nhân không đạt được mục đích, mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Th và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Th là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Con chung: Chị Th và anh H có 01 con chung là cháu Ng Th Nh Y, sinh ngày 02/8/2015 hiện cháu đang sống với anh Ng V H tại Bản X, xã H Kh, huyện T D, tỉnh Nghệ An, khi ly hôn chị L Th Th có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ng Th Nh Y cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Xét thấy, từ khi ly thân vào năm 2017 cháu Ng Th Nh Y do anh H, ông Min, bà An chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Th cũng thừa nhận từ khi ly thân chị Th không thường xuyên thăm nom chăm sóc cháu, không hỗ trợ anh H tiền nuôi dưỡng cháu Ý, qua xác minh tại địa phương và trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học H Kh thì cháu Ng Th Nh Y sống với anh Ng V H, ông Ng V M, bà V Th A, các khoản đóng góp cho nhà trường đều do ông M, bà A đóng góp, bản thân cháu Ý cũng có nguyện vọng sống với anh H. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Ng Th Nh Y đã sống ổn định với anh Ng V H. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Ng Th Nh Y, sinh ngày 02/8/2015 cho anh Ng V H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Ý đủ 18 tuổi, trưởng thành, anh H không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị Th được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở chị Th thực hiện quyền này.
Tài sản chung, nợ chung: Chị L Th Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, và Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị L Th Th được ly hôn với anh Ng V H.
2. Con chung:
+ Giao con chung của nguyên đơn và bị đơn là Ng Th Nh Y, sinh ngày 02/8/2015 cho anh Ng V H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị Th;
- Chị Th có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí: Buộc chị L Th Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0005123 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An - VKSND H.T D; - Cơ quan THADS H.T D; - Các đương sự; - UBND xã H Kh; - Lưu Vp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lƣơng Thị Ái |