- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc P - Bùi Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Ngọc P ly hôn anh Bùi Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL TỈNH BL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/3/2024 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL– TỈNH BL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Như
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Quốc Bảo
2. Ông Đinh Công Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, tỉnh BL tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện PLxét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh LA. (Vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp M, xã VPĐ, huyện PL, tỉnh BL. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc P trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện sống chung từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VPĐ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/8/2020. Vợ chồng chị đã không sống chung từ năm 2021 đến nay do sống chung không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn và không còn tình cảm. Nay chị P yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T có một người con chung là Bùi Minh T, sinh ngày 21/01/2019, hiện đang sống với chị. Chị yêu cầu tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo ghi nhận ý kiến của anh Bùi Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Thời gian sống chung, có đăng ký kết hôn và mâu thuẫn hôn nhân như chị P trình bày là đúng. Nay chị P yêu cầu ly hôn thì anh T đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị P có một người con chung như chị P trình bày là đúng. Hiện tại cháu T đang sống chung với chị P, anh T thống nhất giao con chung là Bùi Minh T, sinh ngày 21/01/2019 cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh T thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P, cho chị P được ly hôn với anh T.
+ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Bùi Minh T, sinh ngày 21/01/2019 cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh T có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị P khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T, anh T đang cư trú trên địa bàn huyện PLnên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện PLthụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Chị P và anh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt chị P và anh T là phù hợp theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị P và anh T tự nguyện sống chung từ năm 2018 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, chị P và anh T đã không sống chung từ năm 2021 đến nay, xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng chị P và anh T không sống chung với nhau trong một thời gian dài mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Mặc khác, ghi nhận ý kiến của anh T có trong hồ sơ vụ án anh T đồng ý ly hôn với chị P. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị P và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P, cho chị P ly hôn với anh T.
Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của chị P thì chị P và anh T có một người con chung là Bùi Minh T, sinh ngày 21/01/2021, hiện đang sống với chị P. Anh T đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu nuôi con chung của chị P và ý kiến anh T đồng ý giao con chung cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu T sống cùng với chị P từ khi ly thân đến nay, hiện cháu T phát triển tốt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu T, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P: Giao cháu Bùi Minh T cho chị P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Bùi Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Ngọc P ly hôn anh Bùi Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Bùi Minh T, sinh ngày 21/01/2019 chị Nguyễn Thị Ngọc P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Bùi Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng: Chị P và anh T thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh T thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị P đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006528 ngày 03/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL nên được chuyển sang thu án phí.
Anh Bùi Văn T không phải chịu án phí.
6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện PL; - Chi cục THADS huyện PL; - TAND tỉnh BL; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Như |