vanban.org

Bản án 29/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thơm được ly hôn anh Dương Tuấn Vũ.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thơm trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Dương Khải An, sinh ngày 19/10/2020. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Vũ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh Vũ thực hiện quyền này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Thơm - Anh Vũ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thơm được ly hôn anh Dương Tuấn Vũ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST
Ngày 20/06/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh

Ông Chu Quốc Đạt.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Đại viện viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang.

Ngày 20/06/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/04/2024 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/06/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thơm, sinh năm 1998 (có đơn xin vắng mặt)

HKTT: Thôn Mải Hạ, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Dương Tuấn Vũ, sinh năm 1994 (có đơn xin vắng mặt)

HKTT: Thôn Mải Hạ, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện cùng những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thơm trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 30/01/2020 chị kết hôn với anh Dương Tuấn Vũ tại UBND xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đôi khi có phát sinh một vài mâu thuẫn nhưng đó chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, hai anh chị đều tự giải quyết được. Tuy nhiên, đến năm 2022, giữa chị Thơm và anh Vũ thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, với mức độ trầm trọng hơn trước. Nguyên nhân mẫu thuẫn từ việc hai bên không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, lẫn quan điểm làm ăn, phát triển kinh tế gia đình; đến khoảng tháng 6 năm 2023, chị Thơm và anh Vũ bắt đầu sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ về mặt tình cảm cũng như kinh tế, ai biết cuộc sống của người đó.

Xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục, mục đích cuộc sống hôn nhân gia đình không đạt được nên chị đề nghị được ly hôn anh Vũ.

Về con chung: Chị Thơm và anh Vũ có với nhau 01 người con chung là cháu Dương Khải An, sinh ngày 19/10/2020. Hiện cháu An phát triển bình thường và đang ở cùng anh Vũ và ông bà nội (bố mẹ đẻ của anh Dương Tuấn Vũ). Nay tòa án giải quyết ly hôn, chị Thơm đề nghị Tòa án giao con chung là cháu An cho chị Thơm là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.

Ngoài ra, chị Thơm cũng cho biết, hiện nay chị đang làm tại Công ty Luxshare tại Khu công nghiệp Vân Trung, thời gian chị làm việc là từ 8 giờ sáng đến 17 giờ và thu nhập hàng tháng khoảng 10 triệu đồng/tháng, do đó chị Thơm hoàn toàn có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cho cháu Dương Khải An.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng chị không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thơm có đơn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xin xét xử vắng mặt.

* Tại bản tự khai, các lời khai tiếp theo bị đơn anh Dương Tuấn Vũ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Thơm ngày 30/01/2020, trước khi cưới hai bên có được tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang. Sau khi kết hôn, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn kéo dài đến năm 2023 thì cả hai bắt đầu sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ về mặt tình cảm cũng như kinh tế, ai biết cuộc sống của người đó.

Nay chị Thơm làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh ly hôn, xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Trường hợp chị Thơm vẫn quyết xin ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Dương Khải An, sinh ngày 19/10/2020. Trường hợp nếu Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn, anh đồng ý giao cháu Dương Khải An cho chị Thơm là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Dương Tuấn Vũ không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh Dương Tuấn Vũ vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Thơm và anh Dương Tuấn Vũ đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thơm ly hôn anh Dương Tuấn Vũ.

- Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Thơm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Dương Khải An, sinh ngày 19/10/2020. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Dương Tuấn Vũ được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thơm cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện Lạng Giang. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Thơm và bị đơn là anh Vũ đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 238 của BLTTDS, Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thơm và anh Dương Tuấn Vũ có đăng ký kết hôn vào ngày 30/01/2020 tại UBND xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Thơm, anh Vũ là hợp pháp.

Về tình trạng hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Lời khai của chị Thơm phù hợp với biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương, lời khai của anh Vũ và gia đình anh Vũ đều xác định vợ chồng chị Thơm, anh Vũ có xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị Thơm và anh Vũ bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau.

Nay chị Thơm xin ly hôn, tuy anh Vũ không đồng ý ly hôn và muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng Hội đồng xét xử xét thấy rằng, trong thời gian sống chung vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2023 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Thơm đối với anh Vũ.

Về con chung: Vợ chồng chị Thơm, anh Vũ có 01 con chung là là cháu Dương Khải An, sinh ngày 19/10/2020. Hiện cháu An phát triển bình thường và đang ở cùng anh Vũ, ông bà nội (bố mẹ đẻ của anh Dương Tuấn Vũ). Ly hôn, chị Thơm đề nghị Tòa án giao con chung là cháu An cho chị Thơm là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Anh Vũ không đồng ý lý hôn nhưng trường hợp vợ chồng phải ly hôn, anh Vũ đồng ý để cho chị Thơm là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giao dục. HĐXX thấy rằng: Chị Thơm hiện là công nhân có thu nhập hàng tháng trung bình từ 8.000.000 đồng, thời gian làm việc cố định nên cũng có điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con, anh Vũ tự nguyện để cho chị Thơm trực tiếp nuôi dạy cháu nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Thơm, anh Vũ về việc giao giao cháu An cho chị Thơm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thơm, anh Vũ không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh Vũ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh Vũ thực hiện quyền này.

Chị Thơm, anh Vũ có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Thơm, anh Vũ không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Thơm phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thơm được ly hôn anh Dương Tuấn Vũ.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thơm trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Dương Khải An, sinh ngày 19/10/2020. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn anh Vũ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh Vũ thực hiện quyền này.

Chị Thơm, anh Vũ có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Thơm, anh Vũ không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thơm phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Thơm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007522 ngày 22/04/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Thơm đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ