vanban.org

Bản án 29/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn V. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Diễm M – SN: 10/10/2016 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn V"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA SÚP
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 09 - 2024
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia
đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quốc Chinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bành Trọng Bình

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Nhung - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Hưởng – C/v kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Súp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 182/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 08 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 09 năm 2024.

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H - SN: 1976

Địa chỉ: Thôn 14, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V – SN: 1976

Địa chỉ: Thôn 14, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Hiện đang thi hành án phạt tù tại trại giam Đ – Bộ Công an đóng trên địa bàn huyện C, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn đề nghị xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 12/08/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, và lời khai tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Tôi và anh Nguyễn Văn V tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 18/03/2016. Quá trình chung sống, vợ chồng tôi hạnh phúc trong thời gian đầu và có với nhau 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Diễm M – SN: 10/10/2016, nhưng về sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng trong quan điểm sống, không có tiếng nói chung, nhất là vấn đề tình cảm, tôi khuyên bảo nhưng anh V không thay đổi, tuy được hai bên gia đình cũng như chính quyền góp ý nhưng chúng tôi không thể sống hòa hợp được với nhau, tình cảm giữa tôi và anh V không còn nữa nên tôi và anh V đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho tới nay, hiên nay anh V vi phạm pháp luật đang thi hành án phạt tù tại trại giam Đ – Bộ Công an đóng trên địa bàn huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Nay tôi thấy tình cảm giữa tôi và anh V không còn nữa nên tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ea Súp giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung Nguyễn Ngọc Diễm M – SN: 10/10/2016. Nay ly hôn tôi yêu cầu được nuôi cháu M cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về con riêng: Trước khi kết hôn với anh Nguyễn Văn V tôi đã có 02 con riêng là cháu Nguyễn Thị Phù N –SN: 05/02/2001, cháu Nguyễn Thị Ngọc D –SN: 20/07/2003, hiện nay con riêng của tôi đã trên 18 tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh, không có bệnh tật, có công ăn việc làm để tự nuôi mình nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu anh Nguyễn Văn V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ: Tôi với anh Nguyễn Văn V tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/08/2024 bị đơn anh Nguyễn Văn V trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 18/03/2016. Quá trình chung sống, anh chị hạnh phúc trong thời gian đầu và có với nhau 01 con chung cháu Nguyễn Ngọc Diễm M – SN: 10/10/2016. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như chị H đã trình bày nên anh và chị H đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho tới nay. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H yêu cầu ly hôn với anh, anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung cháu Nguyễn Ngọc Diễm M – SN: 10/10/2016. Nay ly hôn anh đồng ý để chị H nuôi cháu M cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về con riêng: Trước khi kết hôn với anh, chị H đã có 02 con riêng là cháu Nguyễn Thị Phù N –SN: 05/02/2001, Nguyễn Thị Ngọc D –SN: 20/07/2003, hiện nay con riêng của chị H đã trên 18 tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh, không có bệnh tật, có công ăn việc làm để tự nuôi mình nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, đây là con riêng của chị H nên anh không có ý kiến gì.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh đồng ý với chị H việc anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H.

Về tài sản, công nợ: Anh đồng ý với chị Nguyễn Thị H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình Tòa án xác minh đại diện ban tự quản, hội phụ nữ thôn 14, xã Y trình bày: Trong quá trình chị H, anh V sinh sống ở địa phương trong thời gian đầu không thấy cãi, chửi nhau tuy nhiên thời gian gần đây chị H, anh V phát sinh nhiều mâu thuẫn cãi, chửi nhau, anh V vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án không có thời gian chăm sóc gia đình, vợ con nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H, anh V theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 11 tháng 09 năm 2024 nguyên đơn đã được tiếp cận, thống nhất với chứng cứ đã được công khai và không thay đổi bổ sung đơn khởi kiện hay chứng cứ gì mới, không yêu cầu triệu tập đương sự khác đến tham gia phiên tòa.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn V, Tòa án đã tiến hành ủy thác tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các chứng cứ nguyên đơn giao nộp, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định xét xử nhưng anh Nguyễn Văn V có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 96, 97, 98, 175, 176, 197, 198, 204 và 220 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 53, 81, 82, 83, 84 và điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn V, về con chung giao cháu Nguyễn Ngọc Diễm M cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Đối với cháu Nguyễn Thị Phù N, Nguyễn Thị Ngọc D con riêng của chị H, hiện nay đã trên 18 tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh, không có bệnh tật, có công ăn việc làm để tự nuôi mình chị H và anh V không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên anh V không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, công nợ các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn V có nơi cư trú thôn 14, xã Y, huyện E, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án huyện Ea Súp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục: Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn V trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các chứng cứ nguyên đơn giao nộp, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định xét xử, tuy nhiên anh V có đơn xin vắng mặt và xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xử vắng mặt.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn V tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 18/03/2016 đúng theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn V là hợp pháp. Trong thời gian chung sống chị H và anh V nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh, chị tính tình không hợp, bất đồng trong quan điểm sống, không có tiếng nói chung, nhất là vấn đề tình cảm, anh V không quan tâm gia đình, tuy được hai bên gia đình cũng như chính quyền góp ý nhưng chị H và anh V không thể sống hòa hợp được với nhau nên chị H và anh V đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho tới nay, hiên nay anh V vi phạm pháp luật đang thi hành án phạt tù tại trại giam Đ – Bộ Công an thuộc huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Xét tình cảm, hạnh phúc của chị H và anh V không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.

Về con chung: Chị H và anh V có 01 con chung Nguyễn Ngọc Diễm M – SN: 10/10/2016. Về con riêng trước khi kết hôn với anh V, chị Nguyễn Thị H đã có 02 con riêng là cháu Nguyễn Thị Phù N –SN: 05/02/2001, Nguyễn Thị Ngọc D –SN: 20/07/2003.

Nay ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con chung cháu Nguyễn Ngọc Diễm M, anh V cũng đồng ý để chị H nuôi con nên cần giao cháu Nguyễn Ngọc Diễm M cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.

Đối với cháu Nguyễn Thị Phù N, Nguyễn Thị Ngọc D con riêng của chị H hiện nay đã trên 18 tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh, không có bệnh tật, có công ăn việc làm để tự nuôi mình, chị H và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án chị Nguyễn Thị H chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56; Điều 81; 82; 83, 84 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Diễm M – SN: 10/10/2016 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Chị Nguyễn Thị H không được quyền ngăn cản anh Nguyễn Văn V đến thăm nom chăm sóc con chung.

Đối với cháu Nguyễn Thị Phù N, Nguyễn Thị Ngọc D con riêng của chị H hiện nay đã trên 18 tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh, không có bệnh tật, có công ăn việc làm để tự nuôi mình, chị H và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn V có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về tài sản, công nợ: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), chị H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện E theo biên lai thu số 0003641 ngày 12/08/2024.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tử ngày niêm yết bản án.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ