- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp cấp dưỡng"
- Tòa quyết gì? I. Không chấp nhận kháng cáo của bà Hồ Thị Diệu L.
- Căn cứ chính? Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/HNGĐ-PT Ngày 17 - 12 - 2024 V/v tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Phi Yến
Các Thẩm phán: Ông Ngô Hà Nam
Bà Đỗ Thị Thúy Năng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Chung, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2024/TLPT- HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn”; Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXPT- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Quốc V, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Số 29 đường B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (có mặt);
- Bị đơn: Bà Hồ Thị Diệu L, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Số 425 đường T, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt);
Người kháng cáo: Bị đơn bà Hồ Thị Diệu L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Trương Quốc V trình bày:
Ông và bà Hồ Thị Diệu L được Toà án nhân dân quận L giải quyết ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự số 141/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2020. Theo quyết định, thì ông trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trương Hồ Cát T, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2005, bà L không cấp dưỡng nuôi con Trương Hồ Cát T; bà Linh trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trương Hồ Thục V, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2016, ông cấp dưỡng nuôi con chung Trương Hồ Thục V mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Tại thời điểm ly hôn, do bà L không có chỗ ở và không có việc làm nên vì thương con ông đã tự nguyên cấp dưỡng nuôi con chung Trương Hồ Thục V mỗi tháng 2.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận quyết định ly hôn là thời điểm dịch Covid 19 bùng phát mạnh, khiến công việc làm ăn của ông không có đủ thu nhập để thanh toán nợ gốc và lãi vay ở ngân hàng, không có đủ thu nhập bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu của ông và con chung Trương Hồ Cát T.
Do không có điều kiện cấp dưỡng nuôi con nên khi bà L yêu cầu ông mua xe ô tô hiệu Huyundai Grand i10, sản xuất năm 2020, BKS 43A-546.14 đứng tên Công ty Cổ phần D và làm hợp đồng mua bán xe ôtô ngày 24 tháng 11 năm 2020, sang tên cho bà L với số tiền 290.000.000 đồng (Hai trăm chín mươi triệu đồng) để bà L có điều kiện nuôi con và ông đã đồng ý. Ông đã nộp số tiền này cho Công ty Cổ phần D ngày 24 tháng 11 năm 2020. Sau đó, bà L đã bán xe này và thông báo với ông là bán lấy tiền nuôi con. Ngoài ra, mặc dù rất khó khăn, nợ rất nhiều ngân hàng nhưng ông vẫn lo thêm cho con chung Trương Hồ Thục V với nhiều hình thức như mua sắm quần áo, thức ăn, đưa tiền cho bà L…Do không hiểu biết nên ông lập không văn bản hoặc có chứng từ về việc đã cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay, kinh tế của ông quá khó khăn, nợ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam số tiền 9.000.000.000 đồng (Chín tỷ đồng), nợ của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam số tiền 2.269.900.000 đồng (Hai tỷ hai trăm sáu mươi chín triệu chín trăm ngàn đồng). Ngoài ra còn có các khoản nợ thẻ tín dụng tại VP Bank 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng), TP Bank 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), VIB 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), Sacombank 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), Techcombank 136.000.000 đồng (Một trăm ba mươi sáu triệu đồng). Đối với bà L, hiện nay đã có nhà ở và công việc ổn định, ông và bà L đều chịu trách nhiệm mỗi người nuôi một con chung nên ông đề nghị Toà án giải quyết cho ông không cấp dưỡng nuôi con chung Trương Hồ Thục V.
Tại phiên toà sơ thẩm, ông V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày: Mặc dù kinh tế đang rất khó khăn nhưng ông đã cố gắng vay mượn và đã nộp đủ số tiền cấp dưỡng nuôi con đến tháng 9 năm 2024 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn nêu trên tại Chi cục Thi hành án dân sự quận L theo Giấy xác nhận kết quả thi hành án số 112/GXN-THADS ngày 12 tháng 9 năm 2024.
* Bị đơn bà Hồ Thị Diệu L trình bày:
Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự số 141/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân quận L đã có hiệu lực nhiều năm, nhưng ông Trương Quốc V không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, mặc dù có đủ điều kiện, ông có dấu hiệu của tội phạm hình sự “Tội không thi hành án” theo quy định tại Điều 379 Bộ luật Hình sự.
Việc khởi kiện của ông Trương Quốc V là không có cơ sở, không đúng quy định cũng như tình hình thực tế. Do bà đã có đơn yêu cầu thi hành án và Chi cục Thi hành dân sự quận L đang thúc đẩy việc yêu cầu ông V phải thi hành án nên ông V mới khởi kiện để trì hoãn, lách luật. Trong khi ông V có điều kiện về kinh tế, sở hữu rất nhiều bất động sản có giá trị tại Đà Nẵng, trong đó có ngôi nhà tại 666 đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Do vậy, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông V.
Ông Việt trình bày việc mua bán xe ô tô là không đúng. Xe do bà trực tiếp mua và thanh toán tiền cho Công ty Cổ phần D nên Công ty mới xuất hoá đơn cho bà. Ông V trình bày không có điều kiện để tiếp tục cấp dưỡng nuôi con là không có căn cứ. Bà đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V.
Quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
Căn cứ Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 5 Điều 28, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 92, các điều 235 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Trương Quốc V về việc “Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con”.
Xử: Ông Trương Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con chung Trương Hồ Thục V, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2016.
Quyết định này thay cho mức cấp dưỡng tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự số 141/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân quận L.
2. Ông Trương Quốc V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do không có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 23/9/2024, bị đơn bà Hồ Thị Diệu L nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, bà đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc V.
\ \
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xö nhận định:
Về tố tụng:
Ngày 23/9/2024, bị đơn bà Hồ Thị Diệu L nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, xét thấy đơn kháng cáo hợp lệ theo quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được HĐXX chấp nhận xem xét kháng cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, bà Hồ Thị Diệu L được triệu tập hợp lệ, tuy nhiên bà Linh có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bà L.
Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Hồ Thị Diệu L thì thấy:
Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự số 141/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2020 của Toà án nhân dân quận L đã công nhận thỏa thuận giữa ông Trương Quốc V và bà Hồ Thị Diệu L về con chung như sau: “Giao cháu Trương Hồ Cát T; sinh ngày 06/01/2005 cho ông Trương Quốc V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà L không cấp dưỡng nuôi con. Giao cháu Trương Hồ Thục V, sinh ngày 16/02/2016 cho bà Hồ Thị Diệu L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông V cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 10 năm 2020, cấp dưỡng vào ngày 15 hàng tháng.”
Sau khi quyết định có hiệu lực thì bà L có đơn yêu cầu thi hành án nên ngày 16/8/2023, Chi cục Thi hành án dân sự quận L đã ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 1199/QĐ-CCTHADS buộc ông V thi hành tiền cấp dưỡng nuôi con Trương Hồ Thục V mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông V trình bày, do việc làm ăn thất bại, ông nợ nhiều khoản vay tại nhiều Ngân hàng, thu nhập thì không đảm bảo điều kiện sinh hoạt cho ông và cháu Trương Hồ Cát T nên khi bà Linh yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con Trương Hồ Thục V, ông không thi hành tiền cấp dưỡng thường xuyên được. Hiện nay điều kiện kinh tế của ông rất khó khăn nên ông không thể tiếp tục cấp dưỡng cho bà L để nuôi con Trương Hồ Thục V nên đề nghị cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông. Đối với bà L kháng cáo cho rằng ông V không có khó khăn như ông trình bày, hiện nay ngoài ngôi nhà 666 đường T thì ông V vẫn có nhiều tài sản khác nên bà đề nghị cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông V.
HĐXX xét thấy: Nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên là trách nhiệm của cha mẹ. Sau khi ly hôn, bà L và ông V tự nguyện thỏa thuận mỗi người trực tiếp nuôi mỗi con là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên tại thời điểm ly hôn, do ông V có điều kiện kinh tế nên mặc dù nhận nuôi dưỡng con Trương Hồ Cát T nhưng ông V tự nguyện cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng cho bà L để nuôi dưỡng con Trương Hồ Thục V. Tuy nhiên hiện nay, ông Việt đang nợ nhiều khoản vay tại Ngân hàng, thể hiện tại các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tính đến thời điểm ngày 31/5/2024 ông V đang nợ của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam nhiều khoản vay với tổng số tiền gần 9 tỷ đồng. Mặt khác, mức thu nhập hiện tại của ông V tại Công ty Cổ phần Decco là 4.665.000 đồng/tháng nên ông có khó khăn về kinh tế trong việc cấp dưỡng nuôi con Trương Hồ Thục V.
Mặc dù điều kiện kinh tế có khó khăn nhưng ông V cũng đã thể hiện trách nhiệm của mình đối với con Trương Hồ Thục V thông qua việc mua lại chiếc xe ôtô hiệu Huyndai Grand i10, BKS 43A-546.14 của Công ty cổ phần D và sang tên cho bà L sở hữu để bà có điều kiện đưa đón con đi học. Đồng thời, ông V đã thực hiện xong nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đến tháng 9 năm 2024 với tổng số tiền 96.000.000 đồng thể hiện tại Giấy xác nhận kết quả thi hành án số 112/GXN-THADS ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận L. Như vậy căn cứ vào điều kiện kinh tế của ông V ở hiện tại, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V đối với bà L về việc không cấp dưỡng nuôi con chung Trương Hồ Thục V là hoàn toàn có cơ sở.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L thừa nhận hiện nay bà đã có nhà ở và có việc làm, mức thu nhập ổn định, như vậy bà L có đủ khả năng để nuôi con Trương Hồ Thục V. Ngoài ra, theo đơn kháng cáo bà L khai nại ông V còn có nhiều tài sản khác nên có đủ khả năng cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà L không cung cấp được các tài liệu chứng cứ nào chứng minh ông V có nhiều tài sản khác ngoài ngôi nhà 666 đường T mà ông đã thế chấp để vay vốn của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Do đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà L, giữ nguyên án sơ thẩm.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà L, giữ nguyên án sơ thẩm. HĐXX xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên bà L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
I. Không chấp nhận kháng cáo của bà Hồ Thị Diệu L.
II. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận L.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn” của ông Trương Quốc V đối với bà Hồ Thị Diệu L.
Ông Trương Quốc V không cấp dưỡng nuôi con chung Trương Hồ Thục V, sinh ngày 16 tháng 02 năm 2016.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Quốc V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp cấp dưỡng nuôi con.
III. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hồ Thị Diệu L phải chịu án phí là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008874 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP Đà Nẵng; - TAND quận L; - CCTHADS quận L; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Phi Yến |