- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện QĐ hành chính trong lĩnh vực đất đai"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nguyễn Anh T về việc:
- Căn cứ chính? Điều 95 Luật Đất đai; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 168 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/HC-ST Ngày: 27-02-2024 V/v khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thanh Thị Minh Hiền
2. Bà Phan Thị Vi Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 236/2023/TLST-HC ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HC ngày 05 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Phan Nguyễn Anh T, sinh năm 1979 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B
Địa chỉ: Khu dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Tấn T1 là Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
+ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn T1 là Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
+ Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm: 1979 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số E S. Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1982 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà N: Ông Phan Nguyễn Anh T, sinh năm: 1979 (Có mặt) (theo hợp đồng ủy quyền ngày 19/01/2024).
Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Thanh H, bà Nguyễn Thị N là ông Phan Nguyễn Anh T trình bày:
Ngày 01/8/2023, ông Phan Nguyễn Anh T thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (nhận chuyển nhượng từ ông Huỳnh Thanh H, bà Nguyễn Thị N) đối với thửa đất số 132, tờ bản đồ số 24, diện tích 100.0m2, mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất: Khu dân cư V, phường P, thành phố P.
Đồng thời ngay sau khi chứng thực hợp đồng chuyển nhượng, cùng ngày 01/8/2023 ông T nộp hồ sơ đề nghị giải quyết thủ tục đăng ký biến động tại Bộ phận một cửa Chi nhánh Văn phòng Đ, số biên nhận 2023- 12297/TNHS .Tuy nhiên, Ngày 14/8/2023, ông T nhận được Văn bản thông báo 7282/CNVPĐKĐĐPT về việc thông báo tạm ngưng giải quyết hồ sơ hành chính của ông Phan Nguyễn Anh T.
Nội dung cụ thể: Qua kiểm tra, thửa đất số 132, tờ bản đồ số 24, diện tích 100m2 đất ở tại đô thị do Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất cho hộ bà Đặng Thị Kim O theo diện giải tỏa đường L và được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận số CQ 961445, ngày 01/8/2019. Thực hiện theo ý kiến chỉ đạo tại Công Văn số 8972/UBND-TC ngày 03/12/2019 của UBND thành phố P về việc tạm dừng tiếp nhận giải quyết hồ sơ đối với một hộ dân được Nhà nước giao đất thuộc dự án đường L Trong đó UBND thành phố P có ý kiến chỉ đạo tạm dừng tiếp nhận hồ sơ xin giao đất, hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất đối với các hồ sơ được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc dự án đường L
Theo quy định pháp luật thì hồ sơ nhận chuyển nhượng của ông Phan Nguyễn Anh T từ ông Huỳnh Thanh H và bà Nguyễn Thị N hoàn toàn hợp pháp, không bị tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án và còn trong thời hạn sử dụng đất.
Vì vậy, việc chi nhánh văn phòng Đ tạm dừng giải quyết hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông T là sai quy định pháp luật. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Tuyên hủy thông báo số 7282/CNVPĐKĐĐPT ngày 14/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc tạm dừng giải quyết hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông Phan Nguyễn Anh T.
+ Buộc Văn phòng Đ và chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc giải quyết hồ sơ cập nhật đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất cho ông Phan Nguyễn Anh T theo quy định pháp luật.
* Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện.
* Theo văn bản số 350/CNVPĐKĐĐPT-TTLT và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P trình bày:
Ngày 01/8/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ đăng ký chỉnh lý biến động nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phan Nguyễn Anh T theo biên nhận số 2023-12297/TNHS.
Ông Phan Nguyễn Anh T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Huỳnh Thanh H và bà Nguyễn Thị N theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 2299, quyển số 08/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/8/2023 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn Q đối với thửa đất số 132, tờ bản đồ số 24, diện tích 100,0 m, đất ở đô thị, địa chỉ thửa đất tại phường P, thành phố P theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 961445 được UBND thành phố P cấp ngày 01/08/2019 cho hộ bà Đặng Thị Kim O, cập nhật chỉnh lý biến động cho ông Huỳnh Thanh H và bà Nguyễn Thị N ngày 19/12/2019.
Qua kiểm tra, thửa đất số 132, tờ bản đồ số 24, diện tích 100,0 m đất ở đô thị do Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất cho hộ bà Đặng Thị Kim O, theo diện giải tỏa dự án đường L, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 961445 ngày 01/8/2019.
Ngày 23/6/2021, Chi nhánh Văn phòng Đ có Công văn số 5744/CNVPĐKĐĐPT gửi UBND thành phố P xin ý kiến hướng dẫn giải quyết đối với các hồ sơ xin giao đất, hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất, biến động đất đai đối với các hồ sơ được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc dự án đường L. Theo đó, Chi nhánh Văn phòng xin ý kiến đối với các hồ sơ được giao đất thuộc dự án đường L thì hiện nay tiếp tục giải quyết hay phải tạm dừng theo chỉ đạo của UBND thành phố P tại Công văn số 8972/UBND-TC ngày 03/12/2019. Theo ý kiến của UBND thành phố P tại Công văn số 3911/UBND-ĐBGT ngày 07/7/2021 và Công văn số 1920/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 20/8/2021 của Văn phòng Đ Chi nhánh V tổng hợp danh sách các trường hợp thuộc dự án đường L và có văn bản gửi Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố P để có ý kiến cụ thể trường hợp nào được giải quyết, trường hợp nào không được giải quyết.
Hiện nay, Chi nhánh Văn phòng đang chờ ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền, sau khi có ý kiến chỉ đạo được giải quyết đối với các hồ sơ thuộc dự án đường L, Chi nhánh Văn phòng sẽ xem xét giải quyết trường hợp hồ sơ của ông Phan Nguyễn Anh T theo quy định.
Do đó, ngày 14/8/2023, Chi nhánh Văn phòng ban hành công văn số 7282/CNVPĐKĐĐPT về việc phúc đáp tạm dừng giải quyết hồ sơ hành chính cho ông Phan Nguyễn Anh T.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện.
Quá trình đối thoại, các đương sự không thống nhất về toàn bộ vấn đề, đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa:
- Người khởi kiện trình bày: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nguyễn Anh T, hủy Thông báo số 7282/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc tạm ngưng giải quyết hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông Phan Nguyễn Anh T và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về việc vắng mặt đương sự: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B được Tòa án triệu tập hợp lệ, các đương sự vắng mặt có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính.
Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Ông Phan Nguyễn Anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 7282/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc tạm ngưng giải quyết hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông Phan Nguyễn Anh T đối với thửa đất số 132, tờ bản đồ số 24, diện tích 100m2 tọa lạc tại Khu dân cư V, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 961445 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 01/8/2019, cập nhật biến động ngày 26/8/2019, cập nhật biến động ngày 19/12/2019.
Căn cứ Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, đây là khiếu kiện quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Về tư cách tham gia tố tụng:
Theo Điểm e khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04 tháng 04 năm 2015 của Bộ T3 - Bộ N1 - Bộ T4 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở T5 thì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị hạch toán phụ thuộc, thuộc cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai. Như vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không có tư cách pháp nhân. Do đó, Tòa án xác định Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B là người bị kiện.
Về thời hiệu khởi kiện:
Ngày 14/8/2023 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P ban hành Thông báo số 7282/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc tạm ngưng giải quyết hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông Phan Nguyễn Anh T. Ngày 08/12/2023, ông Phan Nguyễn Anh T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 7282/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc tạm ngưng giải quyết hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông Phan Nguyễn Anh T và buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc giải quyết hồ sơ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất cho ông Phan Nguyễn Anh T. Nên yêu cầu khởi kiện của ông T là còn thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nguyễn Anh T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại Quyết định số 7801/QĐ-UBND ngày 25/10/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P, về việc giao đất ở cho hộ bà Đặng Thị Kim O. Bà O đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính cho nhà nước theo Quyết định về việc giao đất ở và được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 961445 ngày 01/8/2019 đối với thửa đất số 132, tờ bản đồ số 24, diện tích 100m2 đất ở tại đô thị tọa lạc tại Khu dân cư V, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc diện giải tỏa dự án đường L.
Sau đó, bà Đặng Thị Kim O đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Trịnh Ngọc T2, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P cập nhật biến động vào ngày 26/8/2019. Ông Trịnh Ngọc T2 tiếp tục chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Huỳnh Thanh H, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P cập nhật biến động vào ngày 19/12/2019.
Ngày 01/8/2023, vợ chồng ông Huỳnh Thanh H, bà Nguyễn Thị N chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 132 nêu trên cho ông Phan Nguyễn Anh T theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 002299, quyển số 08/2023TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C.
Theo Thông báo số 7282/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc thông báo giải quyết hồ sơ hành chính của ông Phan Nguyễn Anh T thì việc tạm dừng giải quyết hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông Phan Nguyễn Anh T với lý do: có ý kiến chỉ đạo tạm dừng tiếp nhận hồ sơ đối với các hồ sơ được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thuộc dự án đường L.
Hội đồng xét xử nhận thấy, trên cơ sở của Quyết định về việc giao đất ở cho hộ bà Đặng Thị Kim O số 7801/QĐ-UBND ngày 25/10/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P, ngày 01/8/2019 UBND thành phố P đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 961445 đối với thửa đất số 132, tờ bản đồ số 24, diện tích 100m2 đất ở tại đô thị cho bà Đặng Thị Kim O. Việc quản lý sử dụng thửa đất trên đã thực hiện chuyển nhượng cho nhiều người cụ thể bà O chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trịnh Ngọc T2, rồi ông T2 chuyển nhượng cho ông Huỳnh Thanh H. Đến thời điểm này không có văn bản nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, kết luận việc thửa đất nêu trên được giao quyền sử dụng đất là không đúng quy định của pháp luật và ban hành văn bản hủy bỏ hoặc thu hồi và cũng không nằm trong danh sách đất bị ngăn chặn, cấm chuyển nhượng của cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Hơn nữa, tại văn bản số 165/CSKT-Đ2 ngày 25/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B cung cấp thông tin cho Tòa án đối với thửa đất số 132, tờ bản đồ số 24, diện tích 100m2 được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 961445 ngày 01/8/2019 theo diện giải tỏa dự án đường L cho hộ bà Đặng Thị Kim O, phường P, thành phố P. Qua rà soát, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh không điều tra, xác minh đối với việc UBND thành phố P giao đất ở theo diện giải tỏa dự án đường L cho hộ bà Đặng Thị Kim O.
Việc ông Phan Nguyễn Anh T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng không thuộc trường hợp không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 191 của Luật Đất đai.
Do đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Huỳnh Thanh H, bà Nguyễn Thị N với ông Phan Nguyễn Anh T là phù hợp theo quy định của pháp luật nên thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 95 của Luật Đất đai.
Ngoài ra, việc đăng ký biến động của ông Phan Nguyễn Anh T chỉ là để thay đổi tên người chủ sử dụng đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P tạm dừng hồ sơ đăng ký biến động của ông Phan Nguyễn Anh T tại Thông báo số 7282/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc thông báo giải quyết hồ sơ hành chính của ông Phan Nguyễn Anh T nhưng không viện dẫn được căn cứ pháp lý nào để không thực hiện việc đăng ký biến động đất đai cho ông Phan Nguyễn Anh T.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nguyễn Anh T là có căn cứ nên chấp nhận, cũng như ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nguyễn Anh T nên Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ông Phan Nguyễn Anh T không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;
- Khoản 1 và khoản 4 Điều 95; Điều 168; Điều 188; Điều 191 của Luật Đất đai;
- Điều 60, Điều 61, khoản 2 Điều 85 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
- Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Nguyễn Anh T về việc:
- Hủy Thông báo số 7282/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 14/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc thông báo giải quyết hồ sơ hành chính của ông Phan Nguyễn Anh T.
- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí:
Ông Phan Nguyễn Anh T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Phan Nguyễn Anh T số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000077 ngày 15/12/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Thái |