- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị X. Buộc bị đơn ông Lưu Hiếu T phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Hoàng Thị X số tiền gốc và lãi tổng cộng là 349.
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/DS – ST Ngày: 07 - 6 -2024 "V/v : Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Đức Hòa và bà Lê Thị Thận
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng– là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tâm – Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 196/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023, về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST - DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa:
-Nguyên đơn: Hoàng Thị X, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Thôn 2, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
-Bị đơn: ông Lưu Hiếu T, sinh năm 1971. (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 7, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNGVỤÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 7 năm 2023, nguyên đơn bà Hoàng Thị X trình bày:
Bà với ông Lưu Hiếu T là hàng xóm cùng trong một xã, ngày 01/7/2018 bà có cho ông Lưu Hiếu T vay số tiền là 163.800.000 đồng (một trăm, sáu mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất là 2%/ một tháng, hai bên có làm hợp đồng vay tiền, ông T có ký kết, lăn tay đầy đủ, hẹn trong thời hạn một tháng sẽ trả tiền. Đến hạn trả nợ, bà có đòi nhiều lần, nhiều năm qua, mỗi khi tôi đến hỏi nợ ông T chỉ hứa cho qua chuyện, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà. Việc làm trên của ông Lưu Hiếu T đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bà. Bà yêu cầu tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết: Buộc ông Lưu Hiếu T trả lại bà tiền vay gốc là:163.800.000 đồng và tiền lãi tạm tính: 163.800.000đ x 48 tháng x 1,6%/tháng = 125.000.000đ.
- Bị đơn ông Lưu Hiếu T vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa nguyên đơn bà X giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bà chỉ khởi kiện cá nhân ông T, bà yêu cầu ông T phải trả bà số tiền vay gốc là 163.800.000đ và tiền lãi tính theo quy định pháp luật kể từ ngày vay (01/7/2018) đến nay tính tròn là 71 tháng với mức lãi suất 1,6%/tháng.
Tại phiên tòa các đương sự không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm.
- Quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tại phiên tòa: Về tố tụng: Việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn yêu cầu ông T phải trả bà số tiền vay gốc là 163.800.000đ và tiền lãi tình theo quy định pháp luật kể từ ngày vay đến nay. Về án phí: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Bà Hoàng Thị X khởi kiện yêu cầu ông Lưu Hiếu T, sinh năm 1971 có nơi cư trú tại thôn 7, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước phải trả số tiền số tiền nợ gốc 163.800.000đ và tiền lãi tình theo quy định pháp luật. Tòa án xác định đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước theo Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của bà X yêu cầu ông T phải trả số tiền số tiền nợ gốc 163.800.000 đồng:
Xét thấy, căn cứ hợp đồng vay tiền ngày 01/7/2018 có nội dung: Bên cho vay bà Hoàng Thị X, bên vay ông Lưu Hiếu T đã vay bà X số tiền 163.800.000đ (một trăm, sáu mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng), thời hạn vay từ ngày 01/7/2018 đến ngày 01/8/2018, ông T ký tên bên vay trong giấy vay tiền này. Tuy nhiên, đến hạn trả nợ ông T không trả tiền cho bà X số tiền nào. Căn cứ khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Như vậy, đến hạn trả nợ vào ngày 01/8/2018, bị đơn ông T không trả đầy đủ số tiền vay cho bà X là ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Nguyên đơn bà X khởi kiện yêu cầu ông T phải trả số tiền nợ gốc 163.800.000 đồng là có cơ sở cần được chấp nhận. Cần buộc bị đơn ông T phải có nghĩa vụ trả nguyên đơn bà X số tiền nợ gốc 163.800.000 đồng (một trăm, sáu mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng).
Xét yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn bà X yêu cầu bị đơn ông T phải trả tiền lãi trên số tiền nợ gốc 163.800.000đ với mức lãi suất theo quy định pháp luật là 1,6%/tháng kể từ ngày vay (01/7/2018) đến nay tính tròn là 71 tháng:
Căn cứ hợp đồng vay tiền ngày 01/7/2018 thể hiện nội dung: khi vay tiền hai bên có thỏa thuận lãi suất 20.000đ/1.000.000đ/01 tháng, theo bà X là thỏa thuận lãi suất 2%/tháng. Căn cứ Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp các bên có thỏa thuận lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay…”. Phía nguyên đơn yêu cầu tính theo mức lãi suất 1,6%/tháng kể từ ngày vay 01/7/2018 đến nay tính tròn 71 tháng là phù hợp cần chấp nhận. Tiền lãi được tính như sau: 163.800.000đ x 71tháng x 1,6%/tháng = 186.076.800 đồng (một trăm tám mươi sáu triệu, không trăm bảy mươi sáu nghìn, tám trăm đồng).
Như vậy, cần buộc bị đơn ông T phải trả nguyên đơn bà X số tiền gốc và tiền lãi là 163.800.000đ + 186.076.800đ = 349.876.800 đồng (ba trăm, bốn mươi chín triệu, tám trăm, bảy mươi sáu nghìn, tám trăm đồng).
Đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị X. Buộc bị đơn ông Lưu Hiếu T phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Hoàng Thị X số tiền gốc và lãi tổng cộng là 349.876.800 đồng (ba trăm, bốn mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi sáu nghìn, tám trăm đồng).
2.Về án phí: Buộc bị đơn ông Lưu Hiếu T phải nộp 17.493.840 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng hoàn trả lại cho bà Hoàng Thị X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.220.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001289 ngày 23/10/2023.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật ( đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình phước; - VKSND huyện Bù Đăng; - CC THADS huyện Bù Đăng; - Đương sự; - Lưu HS. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thu Hà |