vanban.org

Bản án 29/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 20/02/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 7.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Án phí dân sự sơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 7.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/DS-ST
Ngày 20-02-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Giang

Bà Nguyễn Kim Huệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

Ngày 20 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 483/2023/TLST-DS ngày 30/10/2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST- DS ngày 04 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1987 (vắng mặt).

2. Bà Nguyễn Thị Kiều T (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 10 năm 2023 cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa ông Nguyễn Việt S trình bày:

Vào ngày 07/7/2023, ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T có mua 01 điện thoại Samsung tại cửa hàng của ông và còn nợ số tiền 7.200.000 đồng. Ông Nguyễn Văn Kh có ký tên vào biên nhận nợ ngày 07/7/2023, có thỏa thuận miệng thời gian thanh toán nợ vào ngày 07/8/2023 nhưng không ghi vào biên nhận, từ khi nợ đến nay bà T và ông Kh không trả số nợ trên cho ông. Nay ông rút một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T trả cho ông số tiền nợ là 7.200.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.

Ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và không cung cấp lời khai, chứng cứ cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Việt S khởi kiện ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T yêu cầu trả tiền nợ mua tài sản nên đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T cư trú huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Ông Nguyễn Việt S yêu cầu ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T trả số tiền nợ mua điện thoại là 7.200.000 đồng và cung cấp biên nhận nợ ngày 07/7/2023 có ghi nội dung: “ Tôi tên Nguyễn Văn Kh và Nguyễn Thị Kiều T, Địa chỉ: Kinh Thanh Bình – Cái Cám – Tân Hải – Phú Tân – Cà Mau, Hôm nay tôi có nợ tại cửa hàng Hoàng S số tiền là 7.200.000 đồng, về việc mua điện thoại Samsung A23 5G ...” ông Nguyễn Văn Kh ký và ghi họ tên tại phần người nhận và ghi là có nợ 7.200.000 đồng. Ông Nguyễn Văn Kh và Nguyễn Thị Kiều T không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông S. Như vậy, lời trình bày của ông Nguyễn Việt S về việc ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T có nợ ông 7.200.000 đồng là có căn cứ. Theo biên nhận nợ không ghi thời gian thanh toán, tuy nhiên, ông Nguyễn Việt S đã yêu cầu ông Kh và bà T trả nợ nhiều lần, từ khi khởi kiện đến nay ông Kh và bà T cũng không thực hiện việc trả nợ nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 7.200.000 đồng là có căn cứ. Ông Nguyễn Việt S không yêu cầu bị đơn trả lãi nên không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí, ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 430, 440 và 468 của Bộ luật dân sự.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ là 7.200.000 (bảy triệu hai trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T phải chịu 360.000 đồng. Ông Nguyễn Việt S đã nộp tạm ứng án phí với số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019261 ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Nay hoàn trả toàn bộ cho ông Nguyễn Việt S 300.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị Kiều T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ