- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Buộc ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng các khoản tiền như sau:
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2024/DS-ST Ngày: 07 - 8 - 2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Tùng
Bà Linh Thị Ngọc Thạch
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Khánh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 150/2023/TLST- DS ngày 08 tháng 6 năm 2023 về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST- DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2024/QĐST- DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
Địa chỉ trụ sở: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn gồm:
1- Ông Đoàn Anh T1 – sinh năm 1994; Điạ chỉ: Lầu 1, Tòa nhà ACM, số 96 Cao Thắng, Phường 4, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh; Chức vụ: cán bộ xử lý nợ. (Văn bản ủy quyền ngày 19/6/2023). (vắng mặt)
2- Ông Nguyễn Văn Đ; Điạ chỉ: Lầu 1, Tòa nhà ACM, số 96 Cao Thắng, Phường 4, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh; Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ. (Văn bản ủy quyền ngày 19/6/2023). (vắng mặt)
Bị đơn:
1. Ông Huỳnh Ngợi K – sinh năm 1992; Thường trú: Ấp 1, xã X, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
2. Bà Lê Thị Hương T – sinh năm 1991; Thường trú: Ấp 1, xã X, huyện Lộc, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn do ông Đoàn Anh T1 đại diện trình bày:
Ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng theo Hợp đồng cho vay số LN1709110229944/CLN/HĐTC ký ngày 14/9/2017 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CLN/VN0010122/2017/09 ngày 13/9/2017.
Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CLN/VN0010122/2017/09 ngày 13/9/2017 có số tiền vay là 35.000.000 đồng, mục đích vay vốn mua đồ gia dụng, thời hạn duy trì hạn mức thấu chi là 48 tháng, lãi suất 20%/năm. Theo Hợp đồng cho vay số LN1709110229944/CLN/HĐTC ký ngày 14/9/2017 có số tiền vay là 280.000.000 đồng, thời hạn vay 83 tháng tính từ ngày 15/9/2017 đến 15/8/2024, lãi suất 9,9%/năm trong thời hạn 06 tháng, sau đó điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần, phương thức trả gốc và lãi định kỳ mỗi tháng một lần vào ngày 15 với 83 kỳ, mỗi kỳ trả 3.380.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh.
Tài sản thế chấp bảo đảm cho thanh toán khoản vay: 01 xe ô tô con, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại GRAND I10, biển số 60A-406.96 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041322 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Đồng Nai cấp mang tên Huỳnh Ngợi K.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông K và bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên khoản vay bị chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 15/10/2020 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Tạm tính đến ngày 07/08/2024, ông K và bà T còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng như sau:
+ Đối với Hợp đồng cho vay số LN1709110229944/CLN/HĐTC ký ngày 14/9/2017: Vốn giải ngân 280.000.000 đồng, gốc đã trả 121.680.000 đồng, nợ gốc còn lại 158.320.000 đồng, lãi đã trả 85.999.624 đồng, lãi còn nợ 127.487.994 đồng, tổng cộng còn nợ là 285.807.994 đồng.
+ Đối với Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CLN/VN0010122/2017/09 ngày 13/9/2017: Vốn giải ngân 35.000.000 đồng, gốc đã trả 22.603.767 đồng, nợ gốc còn lại 12.396.233 đồng, lãi đã trả 14.947.871 đồng, lãi còn nợ 14.658.750 đồng, tổng cộng còn nợ là 27.054.983 đồng.
Nay, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng yêu cầu ông K và bà T phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng toàn bộ khoản nợ trên và nợ lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Trong trường hợp ông K và bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, thì yêu cầu tuyên tài sản là xe ô tô đã thế chấp là tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Huỳnh Ngợi K trình bày: Ông K thừa nhận vợ chồng ông có nợ số tiền vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng như đại diện ngân hàng trình bày. Ông Khen đồng ý thanh toán số nợ 300.782.213 đồng (trong đó nợ gốc 170.716.233 đồng, nợ lãi 130.065.980 đồng) và lãi phát sinh kể từ ngày 27/3/2024 theo hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế khó khăn, nên chưa thanh toán được và cũng chưa truy tìm được tài sản thế chấp. Sau khi có bản án, quyết định của Tòa án thì ông sẽ thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Lê Thị Hương T trình bày: Bà T trình bày thống nhất với lời trình bày và ý kiến của chồng bà là ông Huỳnh Ngợi K trong vụ án. Bà T đồng ý thanh toán số nợ 300.782.213 đồng (trong đó nợ gốc 170.716.233 đồng, nợ lãi 130.065.980 đồng) và lãi phát sinh kể từ ngày 27/3/2024 theo hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế khó khăn, nên chưa thanh toán được và cũng chưa truy tìm được tài sản thế chấp. Sau khi có bản án, quyết định của Tòa án thì bà sẽ thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án.
Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự về cơ bản đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền nợ gốc là 170.716.233 đồng và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật. Để bảo đảm thanh toán khoản vay, đề nghị tuyên tài sản bảo đảm thanh toán là xe ô tô con, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại GRAND I10, biển số 60A-406.96 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041322 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Đồng Nai cấp mang tên Huỳnh Ngợi K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bị đơn ông Huỳnh Ngợi K đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên phiên tòa tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Huỳnh Ngợi K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại bảng kê tổng hợp chi tiết tiền vay của ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T tính đến ngày 07/8/2024 do Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng cung cấp, thể hiện số nợ như sau:
+ Đối với Hợp đồng cho vay số LN1709110229944/CLN/HĐTC ký ngày 14/9/2017: Vốn giải ngân 280.000.000 đồng, gốc đã trả 121.680.000 đồng, nợ gốc còn lại 158.320.000 đồng, lãi đã trả 85.999.624 đồng, lãi còn nợ 127.487.994 đồng, tổng cộng còn nợ là 285.807.994 đồng.
+ Đối với Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CLN/VN0010122/2017/09 ngày 13/9/2017: Vốn giải ngân 35.000.000 đồng, gốc đã trả 22.603.767 đồng, nợ gốc còn lại 12.396.233 đồng, lãi đã trả 14.947.871 đồng, lãi còn nợ 14.658.750 đồng, tổng cộng còn nợ là 27.054.983 đồng.
Sau khi xem xét số liệu tại bảng kê, thấy việc tính dư nợ gốc còn lại và nợ lãi chưa thanh toán sau khi khấu trừ khoản tiền gốc, tiền lãi mà ông ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T đã thanh toán như trên là phù hợp với những điều khoản thỏa thuận về lãi suất trong hợp đồng tín dụng. Do vậy, xác nhận ông ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng tiền gốc và lãi như trên.
Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản tiền đã vay cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng, ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng về việc yêu cầu ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T thanh toán toàn bộ số tiền dư nợ gốc và nợ lãi nêu trên.
Để bảo đảm thanh toán khoản vay, tuyên tài sản bảo đảm thanh toán là xe ô tô con, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại GRAND I10, biển số 60A-406.96 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041322 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Đồng Nai cấp mang tên Huỳnh Ngợi K.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng được chấp nhận, nên ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải thanh toán (312.862.977 đồng) cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng là 15.643.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; các Điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Buộc ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng các khoản tiền như sau:
- Tiền nợ gốc là 158.320.000 đồng, nợ lãi là 127.487.994 đồng, tổng cộng là 285.807.994 đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu tám trăm lẻ bảy ngàn chín trăm chín mươi bốn đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 08/8/2024 trên dư nợ gốc cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số LN1709110229944/CLN/HĐTC ký ngày 14/9/2017.
- Tiền nợ gốc là 12.396.233 đồng, nợ lãi là 14.658.750 đồng, tổng cộng là 27.054.983 đồng (hai mươi bảy triệu không trăm năm mươi bốn ngàn chín trăm tám mươi ba đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 08/8/2024 trên dư nợ gốc cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CLN/VN0010122/2017/09 ngày 13/9/2017.
Trong trường hợp ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thực hiện không đầy đủ, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng có quyền yêu cầu kê biên, xử lý tài sản bảo đảm là xe ô tô con, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại GRAND I10, biển số 60A-406.96 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 041322 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Đồng Nai cấp mang tên Huỳnh Ngợi K để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: Ông Huỳnh Ngợi K và bà Lê Thị Hương T phải có nghĩa vụ liên đới nộp số tiền 15.643.000 đồng (mười lăm triệu sáu trăm bốn mươi ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.859.000 đồng (sáu triệu tám trăm năm mươi chín ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0007600 ngày 28/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Nguyệt |