- Tranh chấp gì? án hình sự — "lừa đảo - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/HSST Ngày 26-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG - TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Lực
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Châu
Ông Lưu Huy Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Bình Long tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước
tham gia phiên toà: Ông Phạm Trần Hoàn – Kiểm sát viên .
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bình
Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2023/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
+ Bị cáo: Trần Minh H (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam, sinh ngày 27
tháng 12 năm 2002 tại Tây N; nơi đăng ký HKTT: Ấp X, xã H, thị xã T, tỉnh Tây N; nơi ở hiện tại: Tổ 01, ấpT, xã T L, thị xã B, tỉnh Bình Phước; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo không; nghề nghiệp: Làm thuê; tiền án; tiền sự: Không, trình độ học vấn: 8/12. Cha Trần Minh H (đã chết); mẹ bà Võ Thị Thanh T(đã chết); em Trần Ngọc Tường V (đã chết).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/4/2023 cho đến
nay “có mặt tại phiên toà”.
+ Bị hại:
1. Bùi Văn H, sinh năm 1986; HKTT: Tổ 06, khu phố P N, phường P Đ, thị
xã B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
2. Phạm Thanh L, sinh năm 1988; HKTT: Tổ 06, ấp T H, xã T L, thị xã B,
tỉnh Bình Phước. (vắng mặt).
+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Trịnh Quang A, sinh năm 1983; HKTT: Tổ 03, ấp T H, xã T L, thị xã B,
tỉnh Bình Phước. (có mặt)
2. Huỳnh Công H, sinh năm 2002; HKTT: Khu phố L, phường L, thị xã T,
tỉnh Tây N. (vắng mặt)
3. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2004; HKTT: Ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây N.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 10/01/2023, Trần Minh H là nhân viên phục
vụ quán Karaoke “Vân Anh” được Nguyễn Văn Đlà người làm chung đưa cho Hiệp 01 điện thoại OPPO, màu xanh và nói “cho mày cái điện thoại nè, điện thoại tao lượm được trong quán”. Đến khoảng 02 giờ 20 phút sáng ngày 13/02/2023, Hiệp lấy điện thoại Đ cho mở ra xem phát hiện tài khoản Zalo “Trịnh Quang A”, số điện thoại đăng ký là 0938.499.283 có sẵn trong điện thoại nên Hiệp sử dụng nhắn tin chiếm đoạt tiền của 02 người, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Trần Minh H xem các đoạn tin nhắn Zalo giữa Zalo “Trịnh
Anh Quang” và Zalo “ Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Đ Cảm” số điện thoại đăng ký là 0978.198.679 của anh Bùi Văn H, Hiệp phát hiện anh Hiệu nợ tiền công làm nhôm kính nên H sử dụng Zalo “Trịnh Quang A”, H giả mạo là Trịnh Quang A nhắn tin đến Zalo“ Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Đ Cảm” với nội dung “còn ít em chuyển vô tài khoản ACB STK 5891751 Trần Minh H giúp anh cái, để anh thanh toán công nợ luôn, em chuyển trước vài triệu cũng được”. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày anh Bùi Văn H đọc tin nhắn tưởng anh Trịnh Quang A đòi tiền công làm nhôm kính nên đến 16 giờ 50 phút ngày 13/02/2023, anh Hiệu đã chuyển 10.000.000đ (mười triệu đồng) vào tài khoản do H cung cấp. Sau khi chuyển tiền anh Hiệu chụp ảnh kết quả giao dịch gửi qua Zalo “Trịnh Quang A”.
Vụ thứ hai: Trần Minh H sử dụng Zalo “Trịnh Quang A” nhắn tin đến Zalo
“Thanh Long”, số điện thoại đăng ký là 0987.141.700 của anh Phạm Thanh L với nội dung “Anh, em nhờ cái, anh chuyển vô STK 5891751 Ngân hàng ACB tên Trần Minh H 05 triệu giúp em cái rồi em chuyển lại cho anh giúp em cái”. Anh Ltrả lời tin đề nghị xác nhận là Trịnh Quang A thì chuyển tiền nên H lục tìm trong điện thoại thấy có số tài khoản 0201927350101 Ngân hàng Liên Việt mang tên Trịnh Quang A. H nhắn số tài khoản này cho anh Lvới ý nghĩ nếu nhận được tiền do anh Lchuyển, H sẽ vào ứng dụng Ngân hàng Liên Việt có sẵn trên điện thoại chuyển tiền sang tài khoản của H nhưng giao dịch bị lỗi anh Lkhông chuyển được. H tiếp tục nhắn tin Zalo với anh Lđề nghị chuyển tiền vào tài khoản 5891751Ngân hàng ACB của H kèm theo tin nhắn “sợ anh lại không tin, em đây chứ ai đâu mà lừa, anh thử chuyển lại dùm em cái”. Anh Ltưởng thật nên đã chuyển 5.000.000đ (năm triệu đồng) vào tài khoản do H cung cấp.
Sau khi chiếm đoạt được tiền của anh Bùi Văn H và anh Phạm Thanh L,
Trần Minh H sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50S, màu xanh đen, bên trong máy gắn sim số 0386.275060 đăng nhập vào ứng dụng Ngân hàng Á Châu (ACB) số tài khoản 5891751 của H để nạp tiền vào tài khoản Game Online và rút tiền tiêu xài hết.
Đến khoảng hơn 10 giờ ngày 13/01/2023, anh Trịnh Quang A liên hệ đại lý
Mobilphone báo mất điện thoại và làm lại số điện thoại 0938.499283, lấy lại tài khoản Zalo “Trịnh Quang A”, sau đó anh Trịnh Quang A nhận được hình ảnh anh Bùi Văn H chuyển tiền. Anh Trịnh Quang A gọi điện thoại cho anh Hiệu thông báo trước đó bị mất điện thoại. Anh Hiệu biết bị chiếm đoạt tài sản nên báo với Công an phường Phú Đ.
Cùng thời gian này anh Lnhắn tin đến Zalo “Trịnh Quang A” để đòi tiền.
Lúc này anh Trịnh Quang A thông báo cho anh Lbiết trước đó bị mất điện thoại.
Ngày 24/01/2023, H nghỉ tết nguyên đán “Quý Mão” về nhà tại Ấp X, xã H,
thị xã T, tỉnh Tây N và cho bạn là Huỳnh Công H điện thoại di động OPPO F7, màu xanh.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Minh H thừa nhận toàn bộ hành vi gian dối
chiếm đoạt tiền của anh Hiệu và anh Lđồng thời giao nộp số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) để bồi thường cho anh Bùi Văn H 10.000.000đ (mười triệu đồng) và anh Phạm Thanh L 5.000.000đ (năm triệu đồng).
Từ khi bị phát hiện, trong quá trình điều tra, truy tố Trần Minh H đã khai
nhận rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình.
Vật chứng thu giữ:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung OPPO F7, màu xanh là
tài sản hợp pháp của anh Trịnh Quang A bị đánh rơi nên Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho anh Trịnh Quang A.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, loại máy Galaxy A50S, màu
xanh đen, có gắn sim số 0386.275060 của Trần Minh H sử dụng chuyển tiền đã chiếm đoạt được để tiêu xài cá nhân.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu đỏ gắn sim số
0346.976271 là tài sản hợp phám của Trần Minh H bị tạm giữ trong quá trình điều tra.
Về dân sự:
- Bị hại Bùi Văn H và Phạm Thanh L đã được bồi thường số tiền bị Trần
Minh H chiếm đoạt và không yêu cầu khác.
- Anh Trịnh Quang A đã nhận lại điện thoại bị đánh rơi và không yêu cầu gì
khác.
Tại Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát
nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Trần Minh H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội
dung Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước giữ
nguyên quan điểm truy tố của Cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 19 tháng 6 năm 2023 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Áp dụng pháp luật và hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1
Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Minh H mức án từ 08 (tám) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Trách nhiệm dân sự: Không.
Về phần vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên toà sơ thẩm người bị hại là Bùi Văn H và Phạm Thanh L và
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hỳnh Công Hào và Nguyễn Văn Đvắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai và các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì khác nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng gì đến việc xét xử nên không cần thiết phải hoãn phiên toà căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bình
Long, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 13/01/2023, tại tổ 01, ấp Thanh
Tân, xã Thanh Lương, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Trần Minh H sử dụng điện thoại và tài khoản Zalo của anh Trịnh Quang A, H giả mạo là anh Trịnh Quang A nhắn tin cho anh Bùi Văn H, anh Hiệu tưởng thật nên chuyển cho H số tiền 10.000.000 đ (mười triệu đồng). Với thủ đoạn tương tự H nhắn tin cho anh Phạm Thanh L, anh Ltưởng thật nên chuyển cho H số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).
Tại phiên tòa bị cáo Trần Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời phù hợp với vật chứng của vụ án, những tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có tại hồ sơ vụ án và được xét hỏi công khai tại phiên tòa, nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi trên của bị cáo đã dùng thủ đoạn gian đối chiếm đoạt tài sản có tổng
giá trị là 15.000.000 đ (mười lăn triệu đồng). Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền
sở hữu về tài sản của người khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ nhận thức để biết hành vi gian dối lợi dụng sự tin tưởng của người bị hại để chiếm đoạt tài sản của bị hại, nhằm thoả mãn nhu cầu có tiền tiêu xài cá nhân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi trực tiếp. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và răn đe, phòng ngừa tội phạm.
. Đối với người liên quan Nguyễn Văn ĐCơ quan điều tra đã xác minh
hiện Nguyễn Văn Đkhông có mặt tại nơi cư trú nên không có cơ sở làm rõ việc Nguyễn Văn Đchiếm đoạt điện thoại của anh Trịnh Quang A, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Đối với Huỳnh Công H không biết nguồn gốc điện thoại do Trần Minh
H cho từ đâu mà có và cũng không biết việc H lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nên không xử lý là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo,
Hội đồng xét xử xét thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền
án, tiền sự, bản thân còn trẻ, nhất thời phạm tội, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn cha, mẹ và em gái mất sớm hiện tại bị cáo đang sống cùng bà nội đã lớn tuổi làm nghề bán vé số và tại phiên toà người bị hại là anh Bùi Văn H và anh Phạm Thanh L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét bị cáo Trần Minh H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 và ngoài lần phạm tội này bị cáo H luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước, chưa lần nào bị xử lý hành chính, có nơi cư trú rõ ràng. Đối chiếu các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo có đủ điều kiện để hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo H được hưởng án treo, ấn định một thời gian thử thách nhất định, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, cho bị cáo một cơ hội để tự cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Bùi Văn H và anh Phạm Thanh L đã
được bồi thường số tiền bị Trần Minh H chiếm đoạt và không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung OPPO F7, màu xanh là
tài sản hợp pháp của anh Trịnh Quang A bị đánh rơi nên Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho anh Trịnh Quang A nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, loại máy Galaxy A50S, màu
xanh đen, có gắn sim số 0386.275060 của Trần Minh H sử dụng chuyển tiền đã chiếm đoạt được để tiêu xài cá nhân đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu đỏ gắn sim số
0346.976271 là tài sản hợp pháp của Trần Minh H bị tạm giữ trong quá trình điều tra nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh
Bình Phước tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Không.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh:
- Tuyên bố bị cáo Trần Minh H (tên gọi khác: Không) phạm tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
[2]. Về áp dụng pháp luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật
hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Minh H mức án 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
[3]. Giao bị cáo Trần Minh H cho Ủy ban nhân dân xã Thanh Lương, thị xã
Bình Long, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm
nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 201.7
[4]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017), điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu
SamSung, loại máy Galaxy A50S, màu xanh đen, có gắn sim số 0386.275060 của Trần Minh H sử dụng chuyển tiền đã chiếm đoạt được để tiêu xài cá nhân đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
Trả lại cho bị cáo Trần Minh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7,
màu đỏ gắn sim số 0346.976271 là tài sản hợp pháp của Trần Minh H bị tạm giữ trong quá trình điều tra.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0002783 ngày 19/6/2023 của Chi cục
Thi hành án dân sự thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
[5]. Án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều
21, khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Minh H phải nộp 200.000đ (hai trăm
nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Không.
[6]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có
mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; (2) - VKSND thị xã Bình Long (1) - CSĐT - Công an thị xã Bình Long; (2) - PV 06 Công an tỉnh; (1) - Chi cục Thi hành án DS thị xã Bình Long; (1) - Nhà giam giữ Công an thị xã Bình Long (1); - UBND xã Thanh Lương; - Bị cáo; (1) - bị hại (2) - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (3) - Lưu Hồ sơ; Cổng thông tin để công bố; (2) - UBND xã Thanh Lương (1) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Huỳnh Hoàng Lực THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hoàng Lực |