vanban.org

Bản án 29/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tô Văn H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Tô Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Tiếp tục áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú số 80/2022/HSST-LCĐKNCC ngày 21 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo Tô Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Văn H phạm tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, t…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tô Văn H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 11 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 341 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 29/2023/HS-ST
Ngày 21-02-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

2. Ông Tô Văn Nhung.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vƣơng, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 388/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXX-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:

Tô Văn H, sinh năm 1995 tại tỉnh L; thƣờng trú: Tổ dân phố 14, thị trấn D, huyện H, tỉnh L; tạm trú: Tổ 9, khu phố L, phƣờng H, thành phố A, tỉnh D; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Tô Văn O, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị P, sinh năm 1974; bị cáo có 02 em ruột lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000; vợ là Lê Thị Kim D, sinh năm 2001; có 02 con, lớn sinh năm 2021 và nhỏ sinh năm 2022; tiền án: Bản án số 30/2019/HS-ST ngày 26/9/2019, Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chƣa đƣợc xóa án tích do chƣa chấp hành xong thời gian thử thách án treo; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 19/9/2022 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Tô Văn H có bằng lái xe hạng B2 nhƣng đã hết hạn, chƣa có giấy phép lái xe hạng C, vì có nhu cầu xin làm tài xế xe tải nên H đã đặt mua giấy phép lái xe thông qua mạng xã hội Facebook của một ngƣời tên Huy (không rỏ nhân thân, lai lịch) để mua giấy phép lái xe hạng C giả với giá 22.000.000 đồng.

Khoảng tháng 8/2021, H sử dụng điện thoại Iphone 8 đăng nhập vào tài khoản Facebook “Văn H” thấy trang quảng cáo (không nhớ tên trang) ghi hỗ trợ nâng dấu xe và thi bằng lái xe hạng A1, B2, C, FC, E, ngƣời tham gia nâng hạng không cần đi thi nên H nhắn tin hỏi nâng dấu giấy phép lái xe từ hạng B2 lên hạng C thì có tài khoản Facebook (không nhớ tên tài khoản) tự xƣng là Huy (không rõ nhân thân, lai lịch) nhắn tin cho H tƣ vấn về thủ tục nâng hạng giấy phép lái xe từ hạng B2 lên hạng C rồi yêu cầu H chụp hình hai mặt trƣớc sau chứng minh nhân dân và bằng lái xe hạng B2 gửi qua Facebook cho Huy. Sau đó, H gửi thông tin cá nhân của H, gồm: 01 (một) giấy chứng minh nhân dân, 02 tấm hình 3x4 và 01 giấy phép lái xe hạng B2 của H qua đƣờng bƣu điện đến địa chỉ mà Huy cung cấp (không nhớ địa chỉ) và chuyển khoản trƣớc số tiền là 5.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng Agribank số 5207205082866 đến số tài khoản ngân hàng của Huy (không nhớ số tài khoản) để đặt cọc trƣớc cho Huy. Đến khoảng tháng 12/2021, H nhận đƣợc một bƣu phẩm bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân của H và 01 giấy phép lái xe hạng C, số 6602195037504 mang tên Tô Văn H, sinh ngày 20/01/1995 do Sở giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 27/11/2021. Sau khi nhận đƣợc giấy phép lái xe hạng C, H chuyển khoản tiếp số tiền 17.000.000 đồng qua số tài khoản mà trƣớc đó H đã chuyển tiền đặt cọc cho Huy. Sau đó, H cất giữ giấy phép lái xe hạng C giả tại phòng trọ thuộc khu phố Chiêu Liêu, phƣờng Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngày 19/7/2022, H mang giấy phép lái xe hạng C, số 6602195037504 nói trên đến Văn phòng Công chứng Trần Thanh Vũ, địa chỉ số: 331, đƣờng Trần Hƣng Đạo, khu phố Tây A, phƣờng Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để công chứng bổ sung hồ sơ xin việc làm thì bị anh Trần Thanh Vũ là nhân viên Văn phòng công chứng nghi vấn là giấy phép lái xe giả nên trình báo Công an phƣờng Đông Hòa, thành phố Dĩ An đến tạm giữ giấy phép lái xe hạng C nêu trên và đƣa H về trụ sở Công an làm việc. Tại Cơ quan Công an, H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên Công an phƣờng Đông Hòa đã chuyển hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

- Vật chứng thu giữ: 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số 6602195037504 mang tên Tô Văn H, sinh ngày 20/01/1995 do Sở giao thông Vận tải tỉnh L cấp ngày 27/11/2021.

Tại kết luận giám định số 328/KL-KTHS (TL) ngày 02/8/2022 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: 01 (một) “Giấy phép lái xe” (PET), số 6602195037504, hạng C, mang tên “Tô Văn H”, sinh ngày 20/01/1995, nơi cƣ trú” TDP 14, xã D, huyện H, tỉnh L, đề ngày 27/11/2021 (ký hiệu A) là giấy giả.

Ngày 19 tháng 9 năm 2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can để điều tra đối với Tô Văn H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng số: 19/CT-VKS-DA ngày 16 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Tô Văn H, về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Tô Văn H từ 09 (chín) tháng đến 12 (mƣời hai) tháng tù.

Đối với 01 (một) điện thoại Iphone 8, H sử dụng để đăng nhập Facebook đã bị hƣ hỏng; tài khoản Facebook mang tên “Văn H” cũng đã bị khóa từ tháng 3/2022 và H không còn sử dụng tài khoản trên nên không xác minh đƣợc thông tin.

Qua xác minh số tài khoản 5207205082866 mang tên Tô Văn H tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn - Chi nhánh Dĩ An xác định hiện nay số tài khoản trên không còn hoạt động, không có thông tin chuyển khoản nên ngƣời đàn ông tên Huy có hành vi làm giấy phép lái xe giả cho Tô Văn H chƣa xác minh đƣợc nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồng thời bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng tháng 8 năm 2021, Tô Văn H có hành vi cung cấp thông tin cá nhân để ngƣời đàn ông tên Huy (không rõ nhân thân, lai lịch) làm giả cho H một giấy phép lái xe hạng C, có số 6602195037504 mang tên Tô Văn H, sinh ngày 20/01/1995.

Nhƣ vậy, Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 16 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Tô Văn H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, tội Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là chƣa phù hợp về tội danh. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử bị cáo về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nƣớc. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi làm giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhƣng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án, chƣa đƣợc xóa án tích nhƣng tiếp tục phạm tội mới là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo có giấy chứng nhận của chính quyền địa phƣơng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động, có 02 con nhỏ nên Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Đối với Bản án số 30/2019/HS-ST ngày 26/9/2019 Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xử phạt 06 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào các biên bản xác minh có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều thể hiện trong quá trình chấp hành thời gian thử thách của án treo, bị cáo đã tự ý đi khỏi nơi cƣ trú mà không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc giám sát bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 11 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị Cơ quan thi hành án hình sự Công an Quận Bình Thạnh thực hiện các thủ tục để buộc bị cáo chấp hành bản án số 30/2019/HS-ST ngày 26/9/2019 theo quy định pháp luật.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm ít tội nghiêm trọng, xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nƣớc, bị cáo có tiền án đồng thời hành vi của bị cáo ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với ngƣời đàn ông tên Huy có hành vi làm giấy phép lái xe giả cho bị cáo Tô Văn H chƣa xác minh đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Tô Văn H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Tô Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Tiếp tục áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú số 80/2022/HSST-LCĐKNCC ngày 21 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo Tô Văn H.

2. Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tô Văn H.

Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ