- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn Đ bị truy tố về tội giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/HS-ST Ngày: 23-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Thẩm phán:
Ông Trịnh Xuân Miễn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Thành Công
Ông Hoàng Anh Lý
Ông Nguyễn Văn Khỏe
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Kim Yến, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Toàn - Kiểm sát viên.
- Người hỗ trợ tại điểm cầu thành phần: Ông Bùi Vũ Phong, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm là phòng xét xử số 1 của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau và điểm cầu thành phần là Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau, Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 29/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28B/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn Đ, sinh ngày 01/01/1990 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề Ngh: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn M và bà Tống Kim T; vợ tên Phạm Kim V (đã ly thân) và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06/02/2023; bị tạm giam từ ngày 15/02/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo:
1. Luật sư Trần Đức Tiến của Văn phòng Luật sư Trần Đức Tiến thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau. Luật sư có mặt.
2. Ông Ngô Đức Bính là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau. Ông Bính có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Văn Ph, sinh năm 1984 (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Trần Thị Ng (sinh năm 1966, mẹ ruột, có mặt)
2. Cháu Lê Tấn Ph1, sinh ngày 20/01/2008 (con ruột giữa ông Ph và bà Lê Thị N, không xác định được địa chỉ của bà N).
3. Cháu Lê Bảo Th, sinh ngày 24/7/2005 (con ruột giữa ông Ph và bà Lê Thị N)
Cùng nơi cư trú: Ấp Ch, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Cà Mau
Người giám hộ cho cháu Ph1 và cháu Th: Bà Trần Thị Ng
4. Cháu Lê Nguyễn Hoàng M1, sinh ngày 01/02/2022 (con ruột giữa ông Ph với bà Nguyễn Hồng D (không đăng ký kết hôn), cháu M1 sống với bà D).
5. Cháu Lê Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 01/02/2022 (con ruột giữa ông Ph với bà Nguyễn Hồng D, cháu H sống với bà D).
Người đại diện hợp pháp của cháu M1 và cháu H: Bà Nguyễn Hồng D (mẹ ruột), sinh sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Bà Trần Thị Ng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 06/02/2023, Huỳnh Văn Đ điều khiển xuồng máy đến nhà chú ruột là ông Huỳnh Văn U ở Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Tại đây, ông U tổ chức uống rượu, trong tiệc rượu gồm có: Ông U, ông Lê Văn Th1, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn V1 và Đ, đến khoảng gần 13 giờ thì nghỉ. Sau đó, ông Th1 rủ tất cả về nhà ông Th1 ở Ấp Ch, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Cà Mau uống rượu tiếp vì có ông Lê Văn Ph và bà Nguyễn Hồng D đi làm ăn xa về đến nhà ông Th1 chơi.
Khi uống rượu tại nhà ông Th1 có 13 người gồm: Bà Lê Thùy L (vợ ông Th1), ông Th1, ông Lê Văn Ngh, bà Huỳnh Thị M1, bà Trần Thị Ng, bà Nguyễn Hồng D, bà Lê Ngọc H1, ông Lê Văn T1, ông Tòng, ông V1, ông U, ông Lê Văn Ph và Đ. Đến khoảng 14 giờ, bà H1 nghỉ uống rượu về nhà, ông Th1 vào nhà ngủ; ông U, ông V1, ông Ngh thì đi về nhà; bà M1, bà Ng đi vào bộ ván trong nhà ông Th1 để nói chuyện; bà L, ông T1, bà D, ông T1, ông Ph và Đ vẫn còn ngồi uống rượu. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì giữa ông Ph và Đ xảy ra cự cãi, xuất phát từ việc ông Ph cho rằng Phạm Kim V (vợ của Đ) là người không ra gì, bỏ chồng theo người khác. Trong lúc cự cãi, ông Ph dùng tay đánh trúng vào mặt Đ 02 cái, Đ định đánh lại ông Ph nhưng được ông T2, ông T1 can ngăn kêu Đ về nhà, Đ không nói gì, xuống vỏ, máy chạy đi. Trên đường đi, Đ tức giận vì bị ông Ph đánh nên ghé vào nhà ông Huỳnh Văn U lấy 01 cây dao (loại dao mác vót) tại giàn chén nhà ông U rồi điều khiển vỏ, máy quay trở lại nhà ông Th1 nhằm mục đích đâm Ph để hả giận. Khi đến nhà ông Th1 Đ tắt máy, cập vỏ vào mé sông trước nhà ông Th1, tay phải cầm dao, đi lên mũi vỏ nói: “Hôm nay tao chém thằng này chết mẹ luôn”, rồi bước lên bờ. Ông T1 thấy Đ trên tay đang cầm dao nên chạy đến để can ngăn và lấy cây dao nhưng không lấy được. Đ nói với ông T1: “Tôi với Dượng không có gì hết”, “Dượng đi ra chỗ khác, nếu không tôi đâm dượng luôn”. Trong lúc ông T1 giằng co để lấy cây dao trên tay của Đ thì ông Ph trong nhà chạy ra đánh vào mặt của Đ làm cả ông T1 và Đ rơi xuống sông. Liền lúc đó, ông Ph nhảy xuống sông nơi ông T1 và Đ té xuống, ông Ph dùng hai tay đánh vào mặt của Đ khoảng 02 cái, Đ cầm dao trên tay phải đâm nhiều cái theo hướng từ dưới lên vào người của ông Ph nhưng không xác định trúng tại vị trí nào trên người ông Ph. Lúc này, bà H1 từ trên bờ nhảy xuống sông, dìu ông Ph về hướng bờ sông, đưa lên vỏ của Đ, ông T1 giật được cây dao trên tay Đ, Đ bơi qua bờ sông bên kia để đi về nhà, ông T1 giắt cây dao vào bờ đất, sau đó lấy bỏ lên vỏ của Đ rồi cùng bà D đưa ông Ph đi cấp cứu tại Trạm Y tế xã Trần Phán, trên đường đi thì ông Ph tử vong.
Huỳnh Văn Đ sau khi về nhà của Đ tắm xong thì đến nhà ông Huỳnh Văn D (chú ruột của Đ) kể cho ông D nghe về việc dùng dao đâm ông Lê Văn Ph và nhờ ông D đưa Đ đến Công an xã Trần Phán, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau để đầu thú.
Bản kết luận giám định Pháp y về tử thi số: 58/KL-KTHS ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau đối với nguyên nhân chết của Lê Văn Ph:
* Khám ngoài:
- Đầu: Tóc hớt ngắn, bạc hoa râm, không dấu thương tích;
- Mặt: Hai mắt nhắm kín, kết mạc mắt nhợt nhạt, đồng tử 02 bên giãn đều 05mm; gò má bên phải có vết rách da nông (4,5cm x 0,3cm). Răng và cung hàm không tổn thương; Hai lỗ tai không máu;
- Cổ + gáy: Không dấu thương tích;
- Ngực: Ở ngực phải khoảng liên sườn III, cách mũi ức 13cm, cách hõm ức 8cm, cách hõm nách phải 14cm có vết thương rách da há miệng, lộ cơ, bờ mép sắc gọn, đuôi vết thương hướng vào trong (4cm x 1,5cm); Nách phải có vết rách da, lộ cơ, bờ mép sắc gọn (7cm x 4cm), vết thương tổn thương da cơ, không tổn thương nội tạng; Ở đường nách sau bên trái cách hõm nách trái xuống 19cm, cách mạn sườn trái 8cm có vết thương rách da há miệng, lộ cơ, bờ mép sắc gọn, đuôi vết thương hướng ra sau (4,2cm x 1,5cm);
- Bụng: Không dấu thương tích;
- Lưng: Ở vai trái có 02 vết rách da nông, d1 (5,5cm x 0,5cm), d2 (1cm x 0,4cm);
- Mông + cơ quan sinh dục; Chi trên, chi dưới: Không dấu thương tích.
Nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp/Vết thương thủng phổi phải và trái, thủng gan, lách.
Tại bản Cáo trạng số 28/ CT-VKS-P1 ngày 06/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố Huỳnh Văn Đ về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đ phạm tội “Giết người”, phạt bị cáo từ 12 năm đến 14 năm tù.
+ Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đồng ý bồi thường 80 triệu đồng chi phí mai táng, khấu trừ 20 triệu đồng gia đình bị cáo đã khắc phục; Bồi thường tổn thất tinh thần 100 triệu đồng; Cấp dưỡng nuôi 02 người con ruột của bị hại với người vợ trước theo mức 745.000 đồng/tháng/cháu và cấp dưỡng nuôi 02 người con ruột của bị hại với vợ sau theo mức 500.000 đồng/tháng/cháu.
+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, gia đình thuộc hộ nghèo nuôi 02 con nhỏ, phía bị hại cũng có lỗi, nên đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ dưới khung hình phạt cho bị cáo.
- Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo.
- Bà Ng trình bày: Yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí mai táng số tiền 80 triệu đồng; bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 100 triệu đồng; cấp dưỡng 02 người con ruột của Ph với vợ trước theo quy định của pháp luật và cấp dưỡng 02 người con ruột của Ph với vợ sau với mức cấp dưỡng 500.000 đồng/tháng/cháu.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thống nhất với ý kiến của người bào chữa; Thừa nhận hành vi phạm tội, xin lỗi gia đình bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt; Đồng ý bồi thường cho gia đình bị hại 80 triệu đồng chi phí mai táng, khấu trừ 20 triệu đồng phía gia đình bị cáo đã khắc phục; Bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại số tiền 100 triệu đồng; Cấp dưỡng cho 02 người con ruột của ông Ph với vợ trước theo quy định của pháp luật và cấp dưỡng cho 02 người con ruột của ông Ph với vợ sau với mức cấp dưỡng 500.000 đồng/tháng/cháu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ ngày 06/02/2023, trong lúc nhậu chung với nhau tại nhà của ông Lê Văn Th1 thuộc Ấp Ch, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Cà Mau, giữa Huỳnh Văn Đ và ông Lê Văn Ph (ông Ph là anh ruột của ông Th1) không giữ được bình tĩnh dẫn đến cự cãi, đánh nhau. Đ bỏ về nhà của ông Huỳnh Văn U (chú ruột Đ thuộc Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau) lấy 01 cây dao (loại dao mác vót) quay trở lại nhà ông Th1 tìm gặp để đâm ông Ph. Trong lúc ông Lê Văn T1 (em ruột của ông Ph) can ngăn và giằng co với Đ ở dưới mé sông trước nhà ông Th1, ông Ph tiếp tục nhảy xuống sông để đánh Đ, Đ dùng dao đâm nhiều nhát vào người ông Ph làm ông Ph tử vong. Kết luận giám định xác định nguyên nhân ông Ph chết là do sốc mất máu cấp/Vết thương thủng phổi phải và trái, thủng gan, lách. Với những tình tiết này, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền được sống của ông Lê Văn Ph được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong dư luận xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự tại địa phương. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc nhậu, bị cáo bỏ về lấy hung khí quay lại tìm đâm bị hại, mặc dù đã được người khác can ngăn, nhưng bị cáo không dừng lại mà tiếp tục dùng dao đâm nhiều nhát vào người bị hại, điều đó thể hiện rõ tính côn đồ. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự đúng như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã truy tố. Bị cáo xâm phạm tính mạng của người khác trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ sau đây cho bị cáo: Đã bồi thường được một phần thiệt hại; Thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Đầu thú; Chưa có tiền án, tiền sự; Kiến thức pháp luật hạn chế do trình độ học vấn thấp; Có ông nội là hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Phía bị hại cũng có một phần lỗi trong việc không nghe người khác khuyên can, dù biết bị cáo cầm dao có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của mình nhưng vẫn tiếp cận để đánh bị cáo (trước khi bị Đ đâm thì ông Ph có 03 lần dùng tay đánh Đ).
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là có cơ sở. Hội đồng xét xử cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để có thời gian cải tạo thành người tốt cũng như phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo tại phiên tòa về việc đồng ý bồi thường cho gia đình bị hại các khoản tiền, gồm: Bồi thường tổn thất về tinh thần 100 triệu đồng và chi phí mai táng 80 triệu đồng. Số tiền này được khấu trừ 20 triệu đồng do gia đình bị cáo đã bồi thường trong giai đoạn điều tra, bị cáo phải tiếp tục bồi thường là 160.000.000 đồng; Cấp dưỡng nuôi 02 người con của ông Ph và bà Lê Thị N, gồm có 02 cháu Lê Tấn Ph1 và cháu Lê Bảo Th với mức cấp dưỡng hàng tháng là 1.490.000 đồng/cháu; Cấp dưỡng nuôi 02 người con của ông Ph và bà Nguyễn Hồng D, gồm 02 cháu Lê Nguyễn Hoàng M1 và Lê Nguyễn Hoàng H với mức cấp dưỡng hàng tháng là 500.000 đồng/cháu. Thời điểm bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày 06/02/2023.
Trường hợp chậm thanh toán các khoản tiền nói trên, bị cáo còn phải chịu tiền lãi theo quy định.
Vì các phân tích nêu trên, ý kiến của Luật sư và của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo được chấp nhận một phần.
Vật chứng là cây dao được bị cáo dùng để đâm bị hại, chủ sở hữu (ông Huỳnh Văn U) không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo thuộc hộ nghèo và tại phiên tòa có đề nghị miễn án phí theo quy định được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; các điều 47, 48; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 591 của Bộ luật Dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Đ phạm tội “Giết người”.
2. Phạt bị cáo Đ 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06 tháng 02 năm 2023.
3. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đồng ý bồi thường tồn thất về tinh thần và chi phí mai táng với tổng số tiền là 160.000.000 (một trăm sáu mươi triệu) đồng cho những người thừa kế của bị hại Lê Văn Ph, gồm có: Bà Trần Thị Ng, cháu Lê Tấn Ph1, cháu Lê Bảo Th, cháu Lê Nguyễn Hoàng M1, cháu Lê Nguyễn Hoàng H.
4. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đồng ý cấp dưỡng nuôi con của ông Lê Văn Ph như sau:
4.1. Cấp dưỡng nuôi cháu Lê Tấn Ph1 và cháu Lê Bảo Th với mức cấp dưỡng hàng tháng là 1.490.000 (một triệu bốn trăm chín mươi nghìn) đồng/cháu, thời điểm bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày 06/02/2023;
4.2. Cấp dưỡng nuôi cháu Lê Nguyễn Hoàng M1 và cháu Lê Nguyễn Hoàng H với mức cấp dưỡng hàng tháng là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng/cháu, thời điểm bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày 06/02/2023;
Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình.
5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
6. Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 01 (một) cây dao, loại dao mác vót, dài 50,05cm, cán gỗ dài 24,55cm, lưỡi kim loại màu đen, dài 25,5cm, rộng 04cm. Vật chứng hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/4/2023).
7. Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
8. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nd tối cao; - VKS nd cấp cao tại TP HCM; - VKS nd tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau; - Thi hành án hình sự; - Phòng KTNV&THA TAnd tỉnh Cà Mau; - Cục THA dân sự tỉnh Cà Mau; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ, án văn, Tòa HS, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |