- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Mạnh T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/HS - ST Ngày: 15/08/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toan
Bà Trần Thị Mão
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyên Yên Mô tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm- Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình và điểm cầu thành phần- Trại tam giam Công an tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/2023/TLST - HS, ngày 21 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2023/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Mạnh T, sinh năm: 1990, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm 1 S, xã M, huyện M, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Mạnh T và bà Phan Thị H; vợ Nguyễn Thị H và có một con; tiền án: Ngày 25/5/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo chưa thi hành phần bồi thường dân sự); ngày 25/11/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo chưa thi hành phần bồi thường dân sự); ngày 29/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo chưa thi hành phần bồi thường dân sự); ngày 17/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo chưa thi hành phần bồi thường dân sự).
Tiền sự: Ngày 25/7/2009, bị Công an huyện Yên Mô xử phạt 200.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Bị cáo chưa thi hành); ngày 11/9/2009, bị Công an xã Yên Mạc xử phạt 200.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Bị cáo chưa thi hành); ngày 10/7/2019, bị Công an huyện Yên Mô xử phạt 200.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Bị cáo chưa thi hành); ngày 06/6/2022, bị Công an xã Yên Mạc và phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Bị cáo chưa thi hành); ngày 19/9/2022, bị Công an xã Yên Mạc xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Bị cáo chưa thi hành); ngày 16/11/2022, bị Ủy ban nhân dân xã Yên Mạc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng (Bị cáo đã chấp hành).
Nhân thân: Ngày 22/2/2009, bị Công an xã Yên Mạc xử phạt 200.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Bị cáo thi hành ngày 22/2/2009); ngày 18/9/2009, bị Ủy ban nhân dân huyện Yên Mô, Ninh Bình ra quyết định “đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc”, thời hạn 24 tháng (Ngày 01/9/2010 bị cáo được miễn chấp hành thời gian bắt buộc chữa bệnh).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/05/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).
Bị hại: Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Trú tại: xóm H, xã Đ, huyện M, tỉnh Ninh Bình.
Anh Tống Văn N, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
Trú tại: xóm 1 L, xã L, huyện M, tỉnh Ninh Bình.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Mạnh T, sinh năm 1965 (Vắng mặt)
Trú tại: xóm 1 S, xã M, huyện M, tỉnh Ninh Bình
Anh Phạm Hải Đ, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn X, xã Gi, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa
Anh Lê Anh V, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
Trú tại: tổ 18, phường S, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Mạnh T là người đang có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, do T nghiện ma túy. Để có tiền sử dụng ma túy và ăn tiêu, T đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của những người dân trong việc trông coi, quản lý tài sản để tìm cách chiếm đoạt tài sản. Trong thời điểm từ ngày 03/3/2023 đến ngày 03/4/2023, Phạm Mạnh T đã 02 lần lén lút, bí mật thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/3/2023, Phạm Mạnh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mầu trắng biển kiểm soát 35B2-170.94 từ chỗ làm việc tại quán bi-a “T2” ở xóm 1, thôn Đông Yên, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô đến Trung tâm y tế thành phố Tam Điệp để uống Methadone. Khoảng 09 giờ 37 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi đến đường trục bê tông thuộc địa phận xóm Đồi Khê Hạ, xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Trên đường đi Phạm Mạnh T thấy bên trái đường theo hướng đi có 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng biển kiểm soát 35B1-507.38 của anh Hoàng Văn D, sinh năm 1982 trú tại xóm H, xã Đ, huyện M, tỉnh Ninh Bình đang dựng ở lề đường để xuống ruộng bón phân cho lúa, không có người trông coi. Phạm Mạnh T liền điều khiển xe mô tô của mình đi vòng lại quan sát thấy chìa khóa xe mô tô vẫn cắm ở ổ khóa. Lúc này T đã nảy sinh ý định lấy chìa khóa xe mô tô đang cắm ở ổ khóa để mở cốp ra xem có tài sản gì thì chiếm đoạt. Để thực hiện ý định của mình T điều khiển xe mô tô đi qua xe mô tô của anh D khoảng 10m thì dừng lại rồi xuống xe đi bộ đến vị trí xe mô tô của anh D đang dựng ở lề đường. Phạm Mạnh T dùng tay lấy chiếc chìa khóa ở ổ khóa điện xe mô tô của anh D để mở cốp xe lục tìm tài sản thấy bên trong cốp xe có 01 chiếc điện thoại thì T đã lấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo1610, vỏ màu vàng đồng, bên ngoài có vỏ ốp màu trắng, viền đen có in hình bình hoa phía sau, bên trong lắp sim số thuê bao 0358941932 của anh Hoàng Văn D mua năm 2017 với giá 3.990.000 đồng. Sau khi lấy được điện thoại T bỏ vào túi áo bên phải chiếc áo khoác màu đen đang mặc và đóng cốp xe của anh D lại rồi nhanh chóng điều khiển xe mô tô của mình tẩu thoát về hướng thành phố Tam Điệp. Trên đường đi T dừng lại để tắt nguồn chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được của anh D để nhằm mục đích không bị phát hiện. Sau khi uống Methadone xong, T đi về theo đường đê hồ Yên Thắng đến nhà chờ trên hồ thì T dừng lại, tháo sim trong điện thoại của anh D vứt xuống hồ Yên Thắng rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về. Trên đường về thấy bên đường có quán điện thoại của anh Trịnh Văn Tr, sinh năm 1992 ở thôn Kh, xã Th, huyện M. Tại đây T đã thuê anh Tr mở mật khẩu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo1610 hết số tiền 80.000 đồng rồi đi về quán bi-a “T2” để làm việc. Ngày 14/3/2023, anh Hoàng Văn D đã làm đơn trình báo đến Công an huyện Yên Mô. Do biết không thể che dấu được việc lấy điện thoại của anh D nên ngày 15/3/2023 Phạm Mạnh T đã đến Công an huyện Yên Mô đầu thú và giao nộp chiếc điện thoại Vivo1610 cùng chiếc ốp điện thoại nêu trên. Đối với sim điện thoại sim số thuê bao 0358941932 do T đã vứt đi, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 03/4/2023, Phạm Mạnh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda kiểu dáng Wave α, màu đỏ đen biển kiểm soát 36B1-440.37 của anh Lê Anh V, sinh năm 1997 trú tại tổ 18, phường S, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (là bạn của T gửi) đi từ nhà đến quán bi-a “T2” ở xóm 1, thôn Đông Yên, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô. Khi đi đến khu vực cổng trường mầm non Yên Lâm thuộc xóm 1, Ngọc Lâm, xã Yên Lâm thì T quan sát thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda kiểu dáng Wave màu đen trắng biển kiểm soát 35M1- 01471 của anh Tống Văn N sinh năm 1972 trú tại xóm 1 L, xã L, huyện Yên Mô đang dựng bên lề đường đối diện không có người trông coi nên đã nẩy sinh ý định lấy trộm tài sản trong cốp xe. Để thực hiện ý định của mình thì Phạm Mạnh T điều khiển xe mô tô đi đến gần và dựng xe bên đường rồi đi xuống ruộng ngô thấy anh N đang phun thuốc sâu ở ruộng cách chỗ dựng xe khoảng 30m. Lợi dụng ruộng ngô bị che khuất tầm nhìn nên T quay lại chỗ dựng xe mô tô của anh N, Phạm Mạnh T đã dùng chân tỳ vào giá để chân trái của xe mô tô, hai tay nâng yên xe lên đồng thời dùng tay phải giữ yên xe còn tay trái luồn vào trong cốp xe lấy 01 chiếc ví da mầu nâu cầm trên tay rồi nhanh chóng điều khiển xe mô tô của mình tẩu thoát. Khi đi đến nghĩa trang thôn Đông Đoài, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô thì T dừng lại mở ví ra kiểm tra bên trong có số tiền 1.020.000 đồng, loại tiền Việt Nam, gồm: 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 500.000 đồng, 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 200.000 đồng, 03 tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000 đồng, 03 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 Chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 000937, mang tên Tống Văn H, biển số đăng ký xe 35M1-01471, cấp ngày 20/11/2012; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Tống Văn N, số 370054004429, cấp ngày 08/12/2016. T lấy tiền cấu dấu vào trong túi quần bên phải, còn chiếc ví dụ và số giấy tờ có trong ví thì T vứt ở nghĩa trang rồi đi về quán bi-a “T2”.
Sau khi nhận được đơn trình báo của anh Tống Văn N, qua rà soát dữ liệu trên hệ thống camera an ninh, Quá trình xác minh khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày Công an xã Yên Lâm, huyện Yên Mô đã triệu tập Phạm Mạnh T là người nghi vấn đến làm việc. Biết không thể che dấu được việc lấy tài sản nên T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đồng thời giao nộp số tiền 1.020.000 đồng. Sau đó T đã đưa Tổ công tác Công an xã Yên Lâm đến nghĩa trang thôn Đông Đoài, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô nơi vứt chiếc ví của anh N. Tại đây tổ công tác đã thu giữ 01 chiếc ví da mầu nâu KT (12x9)cm dạng gập mặt trước có in dòng chữ “LEVI’S” bên trong có 01 Chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 000937, mang tên Tống Văn H, biển số đăng ký xe 35M1-01471, cấp ngày 20/11/2012; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Tống Văn N, số 370054004429, cấp ngày 08/12/2016, Sau đó Công an xã Yên Lâm đã chuyển hồ sơ và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mô giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình điều tra, Phạm Mạnh T đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra: 01 mũ bảo hiểm kích thước 25x30cm, nhãn hiệu Honda, màu sơn vàng, đen, loại mũ trùm đầu, không cằm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn trắng nâu, biển kiểm soát 35B2-17094, số máy 5C64264361, số khung RLCS5C640AY264360; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy số 35029459 do Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Ninh Bình cấp ngày 16/5/2022; 01 áo khoác dài tay, kích thước 75x45cm, nhãn hiệu “HEAD”, màu xanh than; 01 quần bò dài, kích thước 98x35cm, màu đen; 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B1-44037 nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Waveα, màu đỏ đen, số máy HC12E-2915270, số khung RLHHC1200BY115392; 01 mũ bảo hiểm kích thước 30x22x20cm, nhãn hiệu Royal, màu sơn đen, loại mũ trùm đầu, không cằm; 01 áo khoác gió dài tay, kích thước 70x43cm, nhãn hiệu “MARCELO BURL ON”, màu đen xám, cổ áo có đường kẻ màu vàng; 01 quần bò dài, kích thước 97x37cm, màu xanh, không có nhãn hiệu; 01 đôi găng tay bằng vải nhãn hiệu “SJKOR SPORTS”, mỗi chiếc có kích thước 13x26cm, màu đen xám; 01 đôi giầy vải, nhãn hiệu NIKE, màu trắng đen xám, mỗi chiếc có kích thước (29x8x10)cm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 153762 của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda kiểu dáng Waveα, màu đỏ đen biển kiểm soát 36B1-44037 do Phòng Cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 27/7/2011 do anh Phạm Hải Đ sinh năm 1975 trú tại thôn Vân X, xã Gi, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa giao nộp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-ĐGTS ngày 20/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tổ tụng hình sự huyện Yên Mô kết luận: Giá trị của 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo 1610, màu vàng đồng, số Imeil 865573034805671, số Imei2 865573034805663 sản xuất năm 2016, điện thoại cũ đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 03/3/2023 là 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
Giá trị của sim điện thoại di động thuê bao số 0358941932 của nhà mạng viễn thông Viettel cũ đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 03/3/2023 là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Đối với ốp điện thoại di động bằng nhựa màu trắng, viền đen cũ đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 03/3/2023 đã hết giá trị sử dụng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/ĐGTS-HĐ ngày 05/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Mô kết luận: Tại thời điểm ngày 03 tháng 4 năm 2023, giá trị tài sản trong vụ án là 01 (một) ví da màu nâu, dạng gập, mặt trước vị có in dòng chữ “LEVI’S”, ví da có 03 ngăn chính và 09 ngăn phụ, cũ đã qua sử dụng là 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng).
Tại Bản cáo trạng số: 36/CT- VKSYM-HS ngày 21/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Mạnh T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Tuyên bố bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Mạnh T từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 09/05/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu đề nghị gì nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo một mũ bảo hiểm, nhãn hiệu Honda; 01 áo khoác dài tay màu xanh than; 01 quần bò; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu Royal; 01 áo khoác gió màu đen xám; 01 quần bò màu xanh; 01 đôi găng tay bằng vải nhãn hiệu “SJKOR SPORTS” màu đen xám; 01 đôi giầy vải, nhãn hiệu NIKE, màu trắng đen xám.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, nhất trí với luận tội của kiểm sát viên, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các Quyết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Phạm Mạnh T là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Trong thời gian từ ngày 03/3/2023 đến 03/4/2023, Phạm Mạnh T đã lén lút, bí mật 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 09 giờ 37 phút ngày 03/3/2023, tại đường bê tông thuộc địa phận xóm Đồi Khê Hạ, xã Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, Phạm Mạnh T đã lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Vivo1610, vỏ màu vàng đồng bên trong lắp sim số thuê bao 0358941932 của anh Hoàng Văn D có tổng giá trị 850.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 03/4/2023, tại khu vực xóm 1, Ngọc Lâm, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, Phạm Mạnh T đã lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 chiếc ví giả da, bên trong có số tiền 1.020.000 đồng và các giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy; Giấy phép lái xe của anh Tống Văn N có tổng giá trị 1.040.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Phạm Mạnh T 02 lần chiếm đoạt là 1.890.000đồng.
Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Tội trộm cắp tài sản thì
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng, đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a,….
b, Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa, được xóa án tích mà còn vi phạm;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng.
Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội hai lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52.
Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo là người có nhiều tiền án, tiền sự, nhân thân xấu, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội nhiều lần cho thấy, bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo. Bị cáo không nghề nghiệp, không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Phạm Mạnh T đã bồi thường cho anh Hoàng Văn D số tiền (trị giá chiếc sim điện thoại bị mất) là 100.000 đồng. Tài sản trộm cắp khác đã được thu trả cho người bị hại, sau khi nhận lại tài sản người bị hại anh Hoàng Văn D và anh Tống Văn N không có ý kiến gì về phần bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ:
Một chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo 1610, màu vàng đồng, 01 ốp điện thoại di động bằng nhựa màu trắng, viền đen có in hình bình hoa phía sau, là tài sản của anh Hoàng Văn D; 01 ví da màu nâu, 01 Chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 000937 mang tên Tống Văn H, 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Tống Văn N và số tiền 1.020.000 đồng là tài sản anh Tống Văn N. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại số tài sản trên cho anh D và anh Nam là có căn cứ.
Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn trắng nâu, biển kiểm soát 35B2-17094 và 01 xe mô tô kiểu dáng Waveα, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 36B1-44037, Phạm Mạnh T sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn trắng nâu, biển kiểm soát 35B2-17094 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Mạnh T sinh năm 1965 trú tại xóm 1, S, xã M, huyện M, tỉnh Ninh Bình là bố đẻ của T cho mượn để sử dụng đi làm không biết T sử dụng vào việc phạm tội. Xe mô tô kiểu dáng Wave α, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 36B1-440.37 của anh Phạm Hải Đ cho anh Lê Anh V mượn làm phương tiện đi lại, anh V không biết T tự ý lấy xe mô tô trên làm phương tiện sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại 02 chiếc xe mô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký cho ông T và anh Đ là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra có thu giữ: Một mũ bảo hiểm, nhãn hiệu Honda; 01 áo khoác dài tay màu xanh than; 01 quần bò; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu Royal; 01 áo khoác gió màu đen xám; 01 quần bò màu xanh; 01 đôi găng tay bằng vải nhãn hiệu “SJKOR SPORTS” màu đen xám; 01 đôi giầy vải, nhãn hiệu NIKE, màu trắng đen xám thu giữ của Phạm Mạnh T, là đồ dùng cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Đối với ông Phạm Mạnh T, anh Lê Anh V và anh Phạm Hải Đ quá trình điều tra xác định không biết Phạm Mạnh T sử dụng chiếc xe mô tô biển kiểm 35B2-170.94 và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B1- 440.37 làm phương tiện đi thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, ông Phạm Mạnh T, anh Lê Anh V và anh Phạm Hải Đ không vi phạm pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 09/05/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo một mũ bảo hiểm, nhãn hiệu Honda; 01 áo khoác dài tay màu xanh than; 01 quần bò; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu Royal; 01 áo khoác gió màu đen xám; 01 quần bò màu xanh; 01 đôi găng tay bằng vải nhãn hiệu “SJKOR SPORTS” màu đen xám; 01 đôi giầy vải, nhãn hiệu NIKE, màu trắng đen xám.
(Cụ thể chi tiết theo biện bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa Công an huyện Yên Mô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Phạm Mạnh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.
Án xử sở thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.
| Nơi nhận: - Toà án ND, VKSND tỉnh Ninh Bình. - VKSND- Huyện YM. - Bị cáo; Người TGTT , - THA- CA.Huyện YM. - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Anh Tuấn |