vanban.org

Bản án 29/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 08/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H phạm tội: "Cố ý gây thương tích"; Bị cáo Doãn Thanh Q phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T và đồng phạm, Doãn Thanh Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H phạm tội: "Cố ý gây thương tích"; Bị cáo Doãn Thanh Q phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƢƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HS-ST
Ngày: 08/6/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư

2. Bà Bàn Thị Thu Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2023/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Văn T, sinh năm 1974.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Con ông: Vũ Văn K – Sinh năm 1944 và bà Đinh Thị C – Sinh năm 1946 (đã chết).

Gia đình bị cáo có 04 (bốn) anh chị em, bị cáo là con thứ ba.

Vợ: Trần Thị D - Sinh năm 1978, có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2002.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào trong vụ án này. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại Thôn T, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

(Có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Vũ Văn L, sinh năm 2002.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Con ông: Vũ Văn T – Sinh năm 1974 và Trần Thị D - Sinh năm 1978.

Gia đình bị cáo có 02 (hai) anh em, bị cáo là con thứ hai.

Vợ, con: Không có.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào trong vụ án này. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại Thôn T, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

(Có mặt tại phiên tòa).

3. Họ và tên: Nhữ Văn H, sinh năm 1995.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Con ông: Nhữ Văn H1 – Sinh năm 1973 và bà Vũ Thị H2 - Sinh năm 1977.

Gia đình bị cáo có 02 (hai) anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Vợ: Bùi Thị T1 – Sinh năm 1999 và 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào trong vụ án này. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại Thôn T, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

(Có mặt tại phiên tòa).

4. Doãn Thanh Q, sinh năm 1980

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Con ông: Doãn Thanh S – Sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị D1 - Sinh năm 1948 (đã chết).

Gia đình bị cáo có 04 (bốn) anh em, bị cáo là con thứ ba.

Vợ: Lương Thị H3 – Sinh năm 1983, có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào trong vụ án này. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại Xóm T, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

1. Anh Doãn Thanh Q, sinh ngày 1980;

Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985- Tư vấn viên pháp luật.

(Có mặt tại phiên tòa).

2. Anh Vũ Văn T, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.

(Có mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng:

Anh Lâm Thành L1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

Anh Bùi Duy Đ, sinh năm 1978; Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người chứng kiến:

Chị Lương Thị H3, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Xóm T, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 40 phút ngày 26/9/2021, Vũ Văn T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HYUNDAI tải trọng 1.450kg, BKS 89C-214.54, di chuyển trên Quốc lộ C hướng Thái Nguyên đi Bắc Kạn, trên buồng lái có Vũ Văn L và Nhữ Văn H. Khi đến Km 86 + 830 thuộc địa phận Xóm T, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, T bật phát tín hiệu xi nhan phải để chuyển hướng xe rẽ phải vào đường đi Xóm L, xã P. Lúc này phía trước cùng chiều có Doãn Thanh Q đang điều khiển xe mô tô BKS 20E1-066.23 di chuyển sát lề đường phải. Tuệ điều khiển xe ô tô vượt lên trước. Khi xe ô tô do T điều khiển đến đầu đường rẽ thì lúc này có một xe ô tô tải (không nhớ rõ BKS) đang lưu thông đi từ đường trong Làng T ra đường Q. Do đường hẹp nên T dừng xe và lùi lại để nhường đường cho xe ô tô trên đi ra. Q cho rằng T chèn ép mình, nên đã điều khiển xe mô tô vượt lên trước cách đầu xe ô tô của Tuệ khoảng 05m, đỗ và dựng xe mô tô chắn giữa đường rồi đi bộ quay lại phía cửa phụ của xe ô tô dùng tay chỉ, trỏ chửi L, H và T đang ngồi trong buồng lái. L hạ cửa kính xe xuống nói chuyện và xin lỗi nhưng Q vẫn tiếp tục chửi bới, lăng mạ mọi người trên xe ô tô, trước tình hình đó T điều khiển xe di chuyển về phía đường rẽ để không xảy ra cãi nhau. Lập tức, Q nhặt vật cứng bẩn (gạch, đá) ở bãi thải ở rìa đường chạy vòng qua đầu xe ô tô sang phía cửa lái, dùng tay trái giật của xe ô tô bên ghế lái làm cửa xe ô tô bật mở ra, ném gạch, đá vào trong buồng lái xe rồi bỏ chạy về vị trí xe mô tô, do trước đó L đã kéo T sang ghế phụ và đẩy H sang ghế lái nên gạch, đá trúng vào bụng H và kính chắn gió phía trước của xe ô tô làm kính bị rạn vỡ. Thấy vậy, H; L mở cửa xe xuống và chạy đuổi theo Q, khi đuổi kịp H, L đấm, đá nhiều nhát vào người làm Q ngã xuống đường, lúc này có nhiều người dân ra can ngăn nên H với L không đánh Q nữa và đi về xe ô tô. Q đi đến nơi đỗ xe ô tô và tiếp tục chửi bới, lăng mạ H và L đồng thời đấm một nhát vào vùng trán H dẫn đến L và H lại tiếp tục đánh Q. Tuệ xuống xe lấy 01 đoạn gậy gỗ, loại gỗ cây keo khô dài khoảng 80 cm, đường kính khoảng 02- 03cm để trên xe chạy đến dùng tay phải cầm gậy vụt 01 nhát về phía Q. Quế dơ tay phải lên đỡ thì bị vụt trúng vào tay làm chiếc gậy bị gẫy. Tuệ vứt gậy ở rìa đường, L và H kéo Tuệ về phía bên cửa lái xe ô tô. Quế đuổi theo T, L; H thấy vậy liền dùng tay đấm vào vùng đầu và mặt Q, ngay sau đó được mọi người can ngăn sự việc tạm dừng, L và H đi taxi đến Công an huyện P để trình báo sự việc. Tuệ lên ngồi ở ghế lái xe ô tô, đóng chốt cửa kính hai bên buồng lái lại. Quế liền đi đến cửa bên lái quát yêu cầu T xuống xe để nói chuyện nhưng T chỉ hạ cửa kính xe bên lái xuống. Q đưa tay trái qua cửa xe tát 01 nhát vào mặt T và tiếp tục yêu cầu T phải xuống xe, T kéo cửa kính lên chốt lại rồi ngồi trong xe. Thấy vậy, Q liền dùng bàn tay trái đập mạnh vào mặt kính chắn gió phía trước xe ô tô, vị trí trước ghế lái đối diện với vô lăng điều khiển xe, làm kính chắn gió bị dính bùn, đất in hình bàn tay trái, đồng thời làm kính ở vị trí này bị nứt, vỡ. Ngay sau đó được nhiều người can ngăn nên sự việc chấm dứt. Quế được đưa đến Trung tâm Y tế huyện P sơ cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện T3 điều trị thương tích, đồng thời báo Công an xã P, huyện P đến giải quyết vụ việc.

Tại biên bản sự việc do Công an xã P, huyện P lập hồi 11 giờ 30 phút ngày 26/9/2021 xác định: Về thương tích: Doãn Thanh Q bị thương tích mặt chảy nhiều máu; khuỷu tay phải bị xước sát, chảy máu. Về tài sản thiệt hại của xe ô tô BKS 89C-214.54 bị vỡ kính chắn gió phía trước, trong Cabin xe có nhiều vết bùn, đất.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P lập hồi 16 giờ ngày 26/9/2021: Không phát hiện và thu giữ đồ vật gì là gậy gỗ, gạch, đá có liên quan.

Tại Bệnh án ngoại khoa số CT213.509 của Bệnh viện T3 xác định: Bệnh nhân Doãn Thanh Q vào viện hồi 17 giờ 04 phút ngày 26/9/2021, thương tích khi vào viện: Gãy lồi cầu trong xương cánh tay phải, chấn thương phần mềm, sưng nề bầm tím mắt và gò má trái, điều trị đến 16 giờ ngày 07/10/2021 thì ra viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 810/TgT ngày 29/10/2021, của Trung tâm giám định pháp y tỉnh T đối với Doãn Thanh Q xác định:

Dấu hiệu chính qua giám định: Gãy lồi cầu trong xương cánh tay (P), hiện tại có 01 sẹo phần mềm kích thước trung bình và 01 sẹo phần mềm kích thước nhỏ. Kết luận: Tỷ lệ tổn cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 23% (Hai mươi ba phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày.

Về thương tích của Vũ Văn T: bị 01 vết bầm dập, xây sát mặt trong khoang miệng môi trên, môi dưới KT: 0,1 x 0,1cm;

Nhữ Văn H: bị 02 vết xây xước vùng bụng, mạn sườn trái, mỗi vết dài khoảng 10cm, theo bị cáo trình bày đây là các thương tích do đánh nhau với Doãn Thanh Q gây nên, do thương tích nhẹ nên không đi điều trị tại bệnh viện, tự điều trị nay đã khỏi. Tuệ; H có đơn đề nghị không giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên.

Đối với xe ô tô tải BKS: 89C-214.54 do Vũ Văn T điều khiển: Tại biên bản làm việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P lập hồi 17 giờ ngày 26/9/2021, xác định dấu vết để lại trên kính chắn gió phía trước của xe ô tô BKS 89C- 214.54 như sau: Nhãn hiệu KAC, DOT748 ASI M52. LAMINATED4.96, TRANSP > 75%, 43R-000.380 kích thước 141cm x 83cm, trên kính xe có 02 vết nứt vỡ:

Vết 1: Nửa phía dưới ở giữa kính chắn gió phía trước có 01 vùng vỡ tập trung, có kích thước 30cm x 24cm, đo từ tâm vùng vỡ đến điểm tiếp giáp giữa kính xe với phần kim loại đầu xe là 22 cm, đo đến góc kính xe bên trái phía ghế lái của xe là 77cm; cao cách mặt đất 132cm.

Vết 2: Điểm vỡ tập trung có kích thước 21cm x 30cm, vị trí vết vỡ nằm ở mặt trước kính bên ghế lái, đo từ tâm vùng vỡ đến điểm tiếp giáp giữa kính xe với phần kim loại đầu xe là 44cm, đo đến góc kính xe bên trái phía ghế lái của xe là 27cm; cao cách mặt đất 155cm.

Qua kiểm tra trong buồng lái xe (Cabin) xe không phát hiện đồ vật gì, chiếc kính chắn gió bị vỡ có nhãn hiệu là KACDOT748ASIM52. LAMINATED4.96 TRANSP > 75%, 43R-000.380 đã được thu giữ, niêm phong theo quy định.

Ngày 27/9/2021, Vũ Văn T đưa xe ô tô đến gara ô tô Chân Mỹ T tại xóm Đ, xã Đ, huyện P của anh Bùi Duy Đ thay 01 kính chắn gió phía trước của xe ô tô tải BKS: 89C-214.54. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc kính chắn gió do T đã thay thế này, và trị giá chiếc kính xe ô tô do Q gây hư hỏng ngày 26/9/2021.

Tại kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTS ngày 10/12/2021, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện P kết luận: Thay kính 1.600.000₫ (một triệu sáu trăm nghìn đồng - chưa bao gồm VAT phí vận chuyển); Phụ kiện kèm theo (keo+doăng): 240.000đ (hai trăm bốn mươi nghìn đồng); C1 lắp đặt: 400.000₫ (bốn trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản bổ sung số 67/KL- HĐĐGTS ngày 20/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện P, đối với 01 kính chắn gió phía trước xe ô tô tải, nhãn hiệu HYUNDAI tải trọng 1.450KG, kính đã qua sử dụng trị giá 7.800.000đ (Bẩy triệu tám trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã thu giữ:

- 01 (một) kính chắn gió phía trước xe ô tô tải BKS: 89C – 214.54 có đặc điểm: Kích thước 141x80cm, trên kính có 02 (hai) vết rạn, nứt, vỡ. Góc dưới bên trái hướng từ ngoài nhìn vào có các dòng chữ màu đen: Biểu tượng của hãng xe HYUNDAI, KAC, DOT748ASi M5 2, LAMINATED T 4.96, TRANSP≥ 7 5%, 43R- 000380. Góc bên trái từ ngoài nhìn vào bị nứt vỡ kích thước 80x30 cm do quá trình sửa chữa, thay thế. (Được bảo quản theo quy định)

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 89C-214.54 số 045.617 do Phòng CSGT Công an tỉnh H cấp mang tên Vũ Văn T.

- 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới số 2505252 cấp ngày 31/3/2022.

- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 0219059 cấp ngày 25/8/2021.

(Được chuyển theo vụ án)

Quá trình điều tra vụ án, các bị cáo Vũ Văn T; Vũ Văn L; Nhữ Văn H đều đã khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng chân tay và gậy gỗ, đánh Doãn Thanh Q gây thương tích tổn hại 23% sức khỏe như nêu trên.

Riêng đối với bị cáo Doãn Thanh Q: Những lời khai ban đầu bị cáo đã khai nhận hành vi sử dụng bàn tay trái đập vào mặt trước của kính chắn gió, tại vị trí đối diện ghế lái và vô lăng của xe ô tải BKS 89C – 214.54 do T điều khiển, hậu quả làm nứt, vỡ kính chắn gió phía trước của xe. Tuy nhiên, sau đó bị cáo khai là chỉ vịn tay vào phần đầu xe và không nhớ rõ vị trí nào, không có hành vi dùng tay đập làm nứt, vỡ kính của xe ô tô BKS: 89C – 214.54 của Vũ Văn T.

Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không thoả thuận được việc bồi thường thương tích và bồi thường thiệt hại về tài sản. Doãn Thanh Q yêu cầu Vũ Văn T; Vũ Văn L; Nhữ Văn H phải bồi thường tổn hại sức khỏe cùng các khoản chi phí điều trị thương tích cho Q với tổng số tiền là 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng), các bị cáo T, L, H chỉ chấp nhận bồi thường 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng). Vũ Văn T yêu cầu Doãn Thanh Q phải bồi thường số tiền thay thế kính xe ô tô mới của xe ô tô BKS 89C-214.54 là 3.000.000₫ (ba triệu VNĐ), trị giá của chiếc kính xe ô tô đúng chủng loại của hãng H4 do Q làm nứt, vỡ là 9.000.000₫ (chín triệu đồng) tổng là 12.000.000₫ (mười hai triệu đồng).

Do không thoả thuận được mức bồi thường, các bị cáo Vũ Văn T; Vũ Văn L; Nhữ Văn H đã đến cơ quan Thi hành án dân sự huyện P nộp mỗi bị cáo là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) để bồi thường thương tích cho Doãn Thanh Q.

Căn cứ các tài liệu chúng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, lời khai của người làm chứng... có đủ căn cứ xác định Doãn Thanh Q là người đã ném vật cứng, bẩn vào buồng lái xe ô tô làm rạn nứt kính chắn gió phía trước xe, sau đó sử dụng tay trái đập vào vào mặt trước của kính chắn gió, tại vị trí đối diện ghế lái và vô lăng của xe ô tải BKS: 89C – 214.54, hậu quả đã gây nứt, vỡ kính chắn gió phía trước của xe ô tô tải BKS: 89C – 214.54.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKSPL ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Doãn Thanh Q về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Trước ngày xét xử vụ án, các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H và Doãn Thanh Q đã bồi thường thiệt hại về thương tích của Doãn Thanh Q và thiệt hại về tài sản của Vũ Văn T. Cụ thể. Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H bồi thường thương tích cho Doãn Thanh Q số tiền 200.000.000đ, ngược lại Doãn Thanh Q bồi thường thiệt hại tài sản là chiếc kính xe ô tô bị hư hỏng là cho Vũ Văn T số tiền 7.800.000đ (Bẩy triệu tám trăm nghìn đồng). Đồng thời Doãn Thanh Q có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H và Vũ Văn T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Doãn Thanh Q

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H khai nhận: Bị cáo và bị hại không quen biết, do gặp nhau giữa đường cả 02 bên đã có lời qua tiếng lại. Do vậy, bị cáo đã có hành vi vi phạm pháp luật, gây thương tích cho Doãn Thanh Q.

Còn đối với Doãn Thanh Q khai: Bản thân cũng có lỗi, khi chặn xe ô tô của Vũ Văn T và tiến đến để nói chuyện, đã có lời nói khiếm nhã, thách thức các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H. Do vậy, bị cáo L, H, T mới có hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời bản thân Doãn Thanh Q cũng đã có hành vi vung tay ném vật cứng, bẩn không rõ đất hay đá vào trong ca bin xe ô tô của Vũ Văn T, ngoài ra còn dùng tay trái tác động vào kính chắn gió của xe ô tô.

Trước ngày xét xử vụ án các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khoẻ và tiệt hại về tài sản cho nhau. Đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên toà, Doãn Thanh Q và Vũ Văn T không yêu cầu bồi thường thêm bất cứ khoản tiền gì.

Vị Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Bị cáo Doãn Thanh Q phạm tội“Cố ý làm hư hỏng tài sản” .

Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn L từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị Nhữ Văn H từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đề nghị Hội đồng xét xử giao các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Doãn Thanh Q từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đề nghị Hội đồng xét xử giao bị cáo Doãn Thanh Q cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận số tiền mà bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường: Bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H bồi thường thương tích cho Doãn Thanh Q số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Doãn Thanh Q bồi thường thiệt hại về tài sản cho Vũ Văn T số tiền 7.800.000đ (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng).

Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) kính chắn gió phía trước xe ô tô tải BKS: 89C – 214.54 có đặc điểm: Kích thước 141x80cm, trên kính có 02 (hai) vết rạn, nứt, vỡ. Góc dưới bên trái hướng từ ngoài nhìn vào có các dòng chữ màu đen: Biểu tượng của hãng xe HYUNDAI, KAC, DOT748ASi M5 2, LAMINATED T 4.96, TRANSP≥ 7 5%, 43R- 000380.

Trả lại cho Vụ văn T:

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 89C-214.54 số 045.617 do Phòng CSGT Công an tỉnh H cấp mang tên Vũ Văn T.

- 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới số 2505252 cấp ngày 31/3/2022.

- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 0219059 cấp ngày 25/8/2021.

…………………………………………………………………………………...

…………………………………………………………………………………...

Tạm giữ số tiền 6.000.000đ của Vũ Văn T, 6.000.000đ của Vũ Văn L, 6.000.000đ của Nhữ Văn H để bảo đảm thi hành án.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án.

Tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến tranh luận.

Trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Tại phiên toà vắng mặt người làm chứng. Bị cáo, người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Doãn Thanh Q không có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người làm chứng. Việc Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người bị hại, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định:

Do xung đột giao thông. Hồi 10 giờ 40 phút ngày 26/9/2021, tại Km 86 + 830 thuộc địa phận xóm T, xã P, huyện P. Doãn Thanh Q điều khiển xe mô tô BKS 20E1-06623 đi cùng chiều với xe ô tô BKS 89C-214.54 do Vũ Văn T điều khiển. Khi cả 02 phương tiện đến đường rẽ vào Làng T, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây Doãn Thanh Q đã có nhiều lời nói khiễm nhã, lăng mạ xúc phạm Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H, đồng thời đã có hành vi vung tay vứt vật cứng, bẩn vào trong xe ô tô BKS 89C-214.54 của Vũ Văn T trúng vào người H. Do vậy, Vũ Văn L, Nhữ Văn H đã xuống xe dùng tay, chân đánh nhiều nhát về phía Doãn Thanh Q, còn Vũ Văn T đã lấy 01 đoạn gậy gỗ dài khoảng 80cm, đường kính 02 đến 03cm từ trên xe ô tô BKS 89C-214.54 và dùng tay phải vụt 01 nhát về phía Doãn Thanh Q, Q dơ tay lên đỡ thì bị trúng vào tay, làm chiếc gậy gỗ bị gãy. Được người dân can ngăn thì H và L đã đi taxi đến Công an huyện P để trình báo. Còn Vũ Văn T lên xe ô tô BKS 89C-214.54 đóng chốt cửa lại, Doãn Thanh Q tiếp tục đi đến cửa bên lái xe ô tô quát và yêu cầu T xuống xe để nói chuyện nhưng, đồng thời Q đưa tay trái qua cửa xe tát 01 nhát vào mặt T, T không xuống xe, Q liền dùng tay trái đập mạnh vào mặt kính chắn gió phía trước xe ô tô, vị trí trước ghế lái đối diện với Vô lăng điều khiển xe, làm kính chắn gió bị dính bùn, đất in hình bàn tay trái, đồng thời làm kính ở vị trí này bị nứt, vỡ. Hậu quả: Doãn Thanh Q bị thương tích gẫy lồi cầu trong xương cánh tay (P) và các vết thương phần mềm, qua giám định xác định tỷ lệ tổn cơ thể do thương tích gây nên là 23% (Hai mươi ba phần trăm). Về thiệt hại của xe ô tô BKS 89C-214.54 do Vũ Văn T điều khiển bị vỡ, hỏng kính chắn gió phía trước, qua định giá xác định, trị giá chiếc kính bị rạn vỡ hư hỏng là 7.800.000đ (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng), Vũ Văn T đã thay 01 kính chắn gió khác không cùng chủng loại với giá 2.240.000đ.

Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo không thoả thuận được về việc bồi thường thiệt hại về sức khoẻ và thiệt hại về tài sản do hành vi trái pháp luật đã gây ra. Do đó, các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H đã đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương nộp mỗi bị cáo 6.000.000đ .

Trước ngày xét xử vụ án, các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H và Doãn Thanh Q đã bồi thường thiệt hại về thương tích của Doãn Thanh Q và thiệt hại về tài sản của Vũ Văn T. Cụ thể. Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H bồi thường thương tích cho Doãn Thanh Q số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng), ngược lại Doãn Thanh Q bồi thường thiệt hại tài sản là chiếc kính xe ô tô bị hư hỏng cho Vũ Văn T số tiền 7.800.000đ (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng). Đồng thời Doãn Thanh Q có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H và Vũ Văn T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Doãn Thanh Q.

Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện như lời khai trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời Doãn Thanh Q thừa nhận nguyên nhân dẫn đến vụ việc có phần lỗi của mình.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự; Bị cáo Doãn Thanh Q phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Các điều luật có nội dung:

Điều 134 có nội dung.

“1. Người nào cố ý gây thương tích cho sức khỏe của người khác tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm.

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.

a)...

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”

Điều 178 có nội dung.

“1. Người nào… cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Bản cáo trạng số 03/CT-VKSPL ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên để xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, hành vi phạm tội: Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H nhận thức rõ việc cố ý gây thương tích cho người khác và bị cáo Doãn Thanh Q nhận thức rõ việc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác, bị cáo Doãn Thanh Q trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T, L, H là người có nhân thân tốt. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho Doãn Thanh Q để khắc phục hậu quả. Do đó, các bị cáo T, L, H đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo T, L, H có một phần lỗi của Doãn Thanh Q, đồng thời Doãn Thanh Q xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó các bị cáo T, L, H còn được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo H có bố đẻ có thành tích trong công tác được tặng giấy khen, bị cáo H được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Doãn Thanh Q: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt; Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Lần phạm tội này là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả. Do dó, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Vũ Văn T là bị hại của hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo còn được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó không nhất thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà vẫn đảm bảo tính giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho Doãn Thanh Q số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) và Doãn Thanh Q bồi thường cho Vũ Văn T, số tiền 7.800.000đ (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng). Doãn Thanh Q và Vũ Văn T không yêu cầu bồi thường thêm bất cứ khoản tiền gì. Hội đồng xét xử cần ghi nhận số tiền đã thỏa thuận và bồi thường.

Về vật chứng:

- 01 (một) kính chắn gió phía trước xe ô tô tải BKS: 89C – 214.54 có đặc điểm: Kích thước 141x80cm, trên kính có 02 (hai) vết rạn, nứt, vỡ. Góc dưới bên trái hướng từ ngoài nhìn vào có các dòng chữ màu đen: Biểu tượng của hãng xe HYUNDAI, KAC, DOT748ASi M5 2, LAMINATED T 4.96, TRANSP≥ 7 5%, 43R- 000380. Góc bên trái từ ngoài nhìn vào bị nứt vỡ kích thước 80x30 cm do quá trình sửa chữa, thay thế. Không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền 6.000.000đ Vũ Văn T, 6.000.000đ Vũ Văn L, 6.000.000đ Nhữ Văn H đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 89C-214.54 số 045.617 do Phòng CSGT Công an tỉnh H cấp mang tên Vũ Văn T. 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới số 2505252 cấp ngày 31/3/2022. 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 0219059 cấp ngày 25/8/2021 là giấy tờ pháp lý gắn liền với xe ô tô BKS 89C-214.54. Do vậy, cần trả lại cho Vũ Văn T để quản lý và sử dụng.

Về án phí: Cần buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa. Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo, án phí và quyền kháng cáo và các vấn đề khác là phù hợp, đúng pháp luật và cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H phạm tội: "Cố ý gây thương tích"; Bị cáo Doãn Thanh Q phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

1.Về hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nhữ Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Doãn Thanh Q 12 (Mười hai) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Doãn Thanh Q cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H đã bồi thường thương tích cho Doãn Thanh Q số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Ghi nhận bị cáo Doãn Thanh Q đã bồi thường thiệt hại về tài sản cho Vũ Văn T số tiền 7.800.000đ (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng).

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) kính chắn gió phía trước xe ô tô tải BKS: 89C – 214.54 có đặc điểm: Kích thước 141x80cm, trên kính có 02 (hai) vết rạn, nứt, vỡ. Góc dưới bên trái hướng từ ngoài nhìn vào có các dòng chữ màu đen: Biểu tượng của hãng xe HYUNDAI, KAC, DOT748ASi M5 2, LAMINATED T 4.96, TRANSP≥ 7 5%, 43R- 000380. Góc bên trái từ ngoài nhìn vào bị nứt vỡ kích thước 80x30 cm do quá trình sửa chữa, thay thế.

Tạm giữ của bị cáo Vũ Văn T số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), Vũ Văn L số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), Nhữ Văn H số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) để bảo đảm thi hành án.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 89C-214.54 số 045.617 do Phòng CSGT Công an tỉnh H cấp mang tên Vũ Văn T.

- 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trƣờng phƣơng tiện giao thông cơ giới số 2505252 cấp ngày 31/3/2022.

- 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 0219059 cấp ngày 25/8/2021.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương ngày 03 tháng 01 năm 2023 và theo biên lai số 0001499, 0001598, 0001497 ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên do các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H đã nộp).

4. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Vũ Văn T, Vũ Văn L, Nhữ Văn H và Doãn Thanh Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

Bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ