vanban.org

Bản án 29/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Hữu Th phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Hữu Th 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/5/2023). Giao bị cáo cho UBND xã Tam Th, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Hữu Th hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Hữu Th phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÚI THÀNH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:29/2023/HS-ST
Ngày: 31/5/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Lê Văn Thịnh.

+ Ông Ngô Ánh Khôi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mùi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hƣơng – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXX-ST ngày 05 tháng 5 năm 2023, thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 16 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Hữu Th, sinh ngày: 05 tháng 3 năm 1956 tại Núi Thành, Quảng Nam.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Th, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.

Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Dân tộc: Kinh.

Nghề nghiệp: Nông.

Trình độ học vấn: 06/12.

Họ và tên cha: Hồ Đ (đã chết).

Họ và tên mẹ: Trần Thị Kh, sinh năm: 1930.

Họ và tên vợ: Ngô Thị B, sinh năm: 1955 và 04 con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty TNHH MTV C, địa chỉ: Quốc lộ 1A, xã Bình Nguyên, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Đại diện theo pháp luật: ông Thái Bảo Tr, chức vụ: Tổng giám đốc. Đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Trung Th, chức vụ: giám đốc Nông trường Cao su P. Ông Th có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1994, trú tại: thôn S, xã M, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt tại phiên tòa.

+ Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1986, trú tại: thôn H, xã Th, huyện N tỉnh Quảng Nam. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 6/2022, bị cáo Hồ Hữu Th tiến hành khai thác keo trên mảnh đất trồng keo của bị cáo, giáp ranh lô cao su số 131 của Nông trường Cao su P thuộc thôn Th, xã T, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Sau khi khai thác keo xong, vào cuối tháng 7/2022, bị cáo tiến hành phát rẫy, cải tạo lại mảnh đất để chuẩn bị trồng keo mới. Trong quá trình phát rẫy, bị cáo dùng rựa chặt đứt ngang 15 thân cây cao su trên phần đất của Nông trường cao su P giáp ranh với phần đất của mình, nhằm mở rộng diện tích đất trồng keo. Sau khi chặt đứt ngang thân của 15 cây cao su nói trên, Th tiến hành đốt rẩy, trong đó Th cũng đốt luôn sang phần đất của Nông trường Cao su P nơi có 15 gốc cao su mà Th đã chặt trước đó.

Sau khi đốt rẫy xong, bị cáo Th thuê ông Nguyễn Văn T là chủ xe múc lên mảnh đất nói trên để xới đất nhằm cải tạo lại đất cho bị cáo. Đến trưa ngày 08/8/2022, Thanh phân công ông L là tài xế xe múc lên đất của bị cáo Th để làm việc theo sự hướng dẫn của bị cáo Th. Trong quá trình làm việc, ông L được bị cáo Th chỉ múc 15 gốc cao su mà bị cáo đã chặt, đốt gốc trước đó trên phần đất có diện tích 1.913m2 và xới luôn phần đất của Nông trường Cao su P để sau này bị cáo Th trồng keo mới. Sau khi cải tạo đất xong, ngày 12/8/2022, bị cáo tiến hành trồng lứa keo mới trên diện tích đất của bị cáo và đất của Nông trường mà bị cáo đã chặt phá 15 cây cao su.

Qua điều tra xác định, lô cao su số 131 thuộc thôn Trường Thạnh, xã Tam Thạnh, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam là tài sản của Công ty TNHH MTV C được trồng và chăm sóc từ năm 2014, đến thời điểm bị chặt đã 09 tuổi. Thời điểm bị cáo chặt 15 cây cao su nói trên vẫn xanh tốt, phát triển bình thường. Sau khi bị cáo chặt ngang thân cây và đốt gốc thì 15 cây cao su này đã chết và hoàn toàn không có giá trị sử dụng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 41/2022-KLĐGTS ngày 21/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Núi Thành kết luận: cây cao su bị hủy hoại được trồng năm 2014, tương đương năm thứ 9, giá trị thiệt hại là 733.692 đồng/ cây. Như vậy, giá trị thiệt hại 15 cây cao su do bị cáo chặt phá là 733.692 đồng/ cây x 15 cây = 11.005.380 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKS-NT ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Hồ Hữu Th về tội: “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội: “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Đồng thời Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; tại phiên tòa, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo - theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường đủ số tiền cho Công ty TNHH MTV C, không đề cập giải quyết. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cái rựa có cán làm bằng gỗ dài 46cm, lưỡi làm bằng kim loại dài 26cm, đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về phần thiệt hại của 15 cây cao su bị hủy hoại phía bị cáo đã bồi thường xong nên bị hại không yêu cầu gì thêm. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo trả lại đất lấn chiếm trồng keo cho bị hại.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Núi Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào khoảng tháng 7 năm 2022, tại lô 131, khoảnh 10, tiểu khu 599 tại Ruộng Mỹ, thôn Trường Thạnh, xã Tam Thạnh, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, Hồ Hữu Th dùng rựa chặt phá, hủy hoại 15 cây cao su được trồng năm 2014, tương đương năm thứ 9, do Nông trường cao su P trực tiếp quản lý thuộc Công ty TNHH MTV C làm chủ sở hữu, giá trị thiệt hại: 11.005.380 đồng. Hành vi của bị cáo Hồ Hữu Th đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 178 bộ luật hình sự năm 2015. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 178 bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án: Tài sản hợp pháp của công dân, tổ chức đều được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi xâm phạm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần phải có mức án thích đáng đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo Th có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét khi lượng hình. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, nơi cư trú ổn định, rõ ràng, thái độ hợp tác, nên xem xét miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo cũng đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã có thỏa thuận về dân sự, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì khác về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy phương tiện dùng vào việc phạm tội (hủy hoại cây cao su) là 01 cái rựa có cán làm bằng gỗ dài 46cm, lưỡi làm bằng kim loại dài 26cm, đã qua sử dụng, của bị cáo Th.

Đối với Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn L không biết việc bị cáo Th thuê múc gốc cây và xới đất trên phần đất của bị hại, thời điểm L múc gốc cây cao su thì toàn bộ cây đã hết giá trị sử dụng nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với 16 cây cao su bị chặt phá còn lại theo đơn của Nông trường Cao su P: Tại thời điểm bị cáo xới đất trồng keo thì toàn bộ 16 cây cao su này đã bị chặt phá, không còn giá trị sử dụng, không xác định được đối tượng chặt phá nên tách ra điều tra xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Đối với yêu cầu của bị hại về việc buộc bị cáo trả lại đất lấn chiếm trồng keo: đây là tranh chấp dân sự sẽ được Tòa án có thẩm quyền giải quyết bằng một vụ án khác khi bị hại có đơn khởi kiện tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 điều 178; điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hồ Hữu Th phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Hữu Th 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/5/2023).

Giao bị cáo cho UBND xã Tam Th, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 cái rựa có cán làm bằng gỗ dài 46cm, lưỡi làm bằng kim loại dài 26cm, đã qua sử dụng của bị cáo Th (vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/5/2023).

3. Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thương vụ Quốc hội về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Hồ Hữu Th phải chịu là: 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm. Nơi nhân:

Cỡ chữ