vanban.org

Bản án 29/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Văn H 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 09/3/2023. Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Lộc Văn H 266.000 đồng (hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) sung Ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lộc Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HS-ST
Ngày 29-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lộc Văn Chung và ông Vi Văn Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Slỉnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hứa Thùy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Lộc Văn H, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1994 tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông: Lộc Văn Y và con bà: Vi Thị Đ; vợ: Lý Thị E, sinh năm 1999; con: Có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Có 01 tiền sự về hành vi cố ý gây thương tích theo Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 37 ngày 12/4/2017 của Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn (đã được xóa), chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giam từ ngày 09/3/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi L- Người đại diện hợp

pháp: Ông Nguyễn Viết Q - Giám đốc, vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.

2. Bà Vi Thị N, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27/02/2023, Lộc Văn H đi đến nhà bà Vi Thị N trú cùng thôn (có quan hệ là dì ruột của Lộc Văn H) mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Woldwide, màu sơn nâu, không gắn biển kiểm soát để đi làm việc đồng áng, bà Vi Thị N đồng ý và giao xe mô tô cho Lộc Văn H. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 01/3/2023 do không có tiền tiêu xài nên Lộc Văn H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, Lộc Văn H một mình đi xe mô tô trên đi từ nhà đến hồ chứa nước B thuộc thôn K, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để xem có tài sản của ai sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 03 phút sau Lộc Văn H đi đến bờ đập hồ chứa nước; đến nơi Lộc Văn H dựng xe mô tô ở đầu mép đập chứa nước đoạn vừa qua trạm barie gần nhà để máy phát điện rồi đi bộ vào bờ đập để quan sát và tìm nhịp lan can (hình dạng giống chiếc thang) có thể lấy trộm. Lộc Văn H kiểm tra các nhịp lan can, đến khi sờ thấy nhịp lan can thứ 03 (ba) trong hành lang xuống bể tiêu năng thì phát hiện nhịp lan can này không hàn chặt vào thành lan can và có thể dùng tay nhấc ra được. Lộc Văn H quan sát xung quanh không thấy ai nên nhấc nhịp lan can vừa sờ được ra khỏi vị trí và dựng sang bên cạnh. Sau đó, Lộc Văn H tiếp tục kiểm tra các nhịp lan can khác nhưng thấy đã được hàn chặt, không thể nhấc ra được. Lộc Văn H đi bộ quay lại chỗ để xe mô tô, điều khiển xe mô tô đi vào dừng ở gần vị trí vừa nhấc nhịp lan can ra và xuống xe đi vào vác nhịp lan can lên vai; sau đó điều khiển xe mô tô đi ra thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn bán nhịp lan can vừa trộm được cho chị Hoàng Thị T với giá 266.000 đồng (hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Sau khi bán được tiền thì H điều khiển xe mô tô đi về nhà ngủ, tiền bán lan can Hiện đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐGTS ngày 09/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn kết luận về giá trị của tài sản: 01 (một) nhịp lan can thép mạ kẽm có kích thước dài 2,28m; rộng 0,5m. Cấu tạo ống thép mạ kẽm: 02 thanh dài đường kính D60mm; các thanh ngang đường kính D42mm có giá 2.050.000đ (hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Lộc Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã viện dẫn ở trên.

Tại Bản cáo trạng số 29/CT-VKS-LB, ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lộc Văn H về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt Ông Nguyễn Viết Q (đại diện theo pháp luật của bị hại) đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị T đã giao nộp nhịp lan can (bị trộm cắp) để phục vụ công tác điều tra và không yêu cầu gì đối với bị cáo Lộc Văn H, chị không biết nhịp lan can là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Vi Thị N yêu cầu được trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Woldwide màu sơn nâu, không có biển kiểm soát, đây là tài sản của bà, bà không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe mang đi trộm cắp tài sản.

Tại phiên toà bị cáo Lộc Văn H khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm đối với vụ án giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lộc Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 07 đến 09 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về biện pháp tư pháp: Đề nghị truy thu của bị cáo số tiền 266.000 đồng (hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) do phạm tội mà có. Về bồi thường dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xem xét xử lý. Về vật chứng: Trả lại cho bà bà Vi Thị N 01 xe mô tô đang tạm giữ do chủ sở hữu hợp pháp là bà Vi Thị N không biết hành vi mượn xe và sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của bản thân và hứa từ nay không tái phạm nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn xét xử vắng mặt những người này.

Lời khai của bị cáo trước phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định: Khoảng hơn 21 giờ 30 phút ngày 01/3/2023 tại đỉnh đập hồ chứa nước B thuộc thôn K, xã S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Lộc Văn H đã có hành vi trộm cắp 01(một) nhịp lan can của công trình Hồ chứa nước B (đang được tạm giao cho Xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi L theo Công văn số 16 ngày 05/01/2023 của UBND tỉnh Lạng Sơn và Công văn số 14 ngày 10/01/2023 của Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi) - đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Viết Q giám đốc Xí nghiệp. Qua định giá tài sản, nhịp lan can bị trộm cắp có giá trị là 2.050.000 đồng (hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Vì vậy với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lộc Văn H đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu về quyền tài sản của người khác, mà quyền này được pháp luật bảo vệ. Bị cáo lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở hữu đã trực tiếp và lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình gây ra là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Để có mức án thỏa đáng ngoài việc xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích mặc dù đã chấp hành xong như vậy là bị cáo có nhân thân không tốt. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như năng lực hành vi, sự hiểu biết của bị cáo thấy rằng cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đúng với các quy định của pháp luật về xử lý đối với hành vi trên nên chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Bị do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Viết Q (đại diện theo pháp luật của bị hại) đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị T đã giao nộp nhịp lan can (bị trộm cắp) để phục vụ công tác điều tra và không yêu cầu gì đối với bị cáo Lộc Văn H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết số tiền do phạm tội mà có là 266.000 đồng, cơ quan Điều tra không thu giữ được. Do vậy cần phải truy thu số tiền này của bị cáo vì đây là tiền do phạm tội mà có.

Về vật chứng của vụ án: 01 (một) nhịp lan can thép mạ kẽm có kích thước dài 2,28m; rộng 0,5m. Cấu tạo ống thép mạ kẽm: 02 thanh dài đường kính D60mm; các thanh ngang đường kính D42mm. Ngày 09/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Woldwide, loại xe nữ, màu sơn nâu, không gắn biển kiểm soát, số máy: C150FMG01633033, số khung: XCGL04Y0029233 (xe cũ đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu năm 2011) thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Vi Thị N, có liên quan đến hành vi phạm tội tuy nhiên chủ sở hữu không biết bị cáo mượn xe để thực hiện phạm tội trộm cắp tài sản, do đó cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Vi Thị N.

Đối với chị Hoàng Thị T là người mua nhịp lan can với Lộc Văn H, khi Lộc Văn H mang nhịp lan can đến bán không nói cho chị Hoàng Thị T biết tài sản do trộm cắp được mà có nên Hoàng Thị T không biết bản thân đã mua tài sản trộm cắp. Sau khi được Cơ quan Điều tra Công an huyện Lộc Bình thông báo, chị Hoàng Thị T đã tự nguyện giao nộp lại nhịp lan can để phục vụ công tác điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với chị Hoàng Thị T là có căn cứ. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với bà Vi Thị N cho Lộc Văn H mượn xe mô tô nhãn hiệu Woldwide màu sơn nâu, không có biển kiểm soát từ ngày 27/02/2023 đến ngày 02/3/2023, khi mượn và trả xe mô tô Lộc Văn H chỉ trao đổi là sử dụng đi làm việc đồng áng. Ngày 01/3/2023, Lộc Văn H sử dụng chiếc xe mô tô nói trên để đi trộm cắp tài sản, tuy nhiên bà Vi Thị N không biết hành vi trộm cắp tài sản của Lộc Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với bà Vi Thị N là có căn cứ. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12- 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Văn H 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 09/3/2023.

3. Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Lộc Văn H 266.000 đồng (hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) sung Ngân sách nhà nước.

4. Về vật chứng: Trả lại cho bà Vi Thị N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WOLDWIDE, loại xe nữ, màu sơn nâu, không gắn biển kiểm soát, số máy: C150FMG01633033, số khung: XCGL04Y0029233, xe cũ đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/5/2023).

5. Về án phí: Bị cáo Lộc Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ