vanban.org

Bản án 29/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Vương Công L 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam là ngày 23/02/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được trả lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường dân sự nên không phải xem xét. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại, dài 20cm, tay cầm có màu xanh và 01 chiếc biển số: 33M5-8285. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Vương Công L 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam là ngày 23/02/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƢỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HS-ST
Ngày: 27 - 4 - 2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƢỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Hoàn

Bà Lê Thị Thương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 4 năm 2023, đối với:

- Bị cáo: Vƣơng Công L, sinh năm 1988 tại thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT: Phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Tổ dân phố Phúc Lý 2, phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Công Thới (đã chết) và bà Chu Thị Chiến; có vợ và có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 443/2013/HSST ngày 22/11/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Không tố giác tội phạm (đã được xoá án); danh bản, chỉ bản số 089 của Công an huyện Đan Phượng lập ngày 06/3/2023; bị cáo bị bắt theo Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang ngày 23/02/2023 và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2023 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Chu Hữu V, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố Hạ 11, phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Giang Trường N, sinh năm 1981; nơi cư trú: Liên Minh, xã Thụy An, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số 2, ngõ 64 phố Trung Kiên, phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 19 giờ 00 phút ngày 23/02/2023, Vương Công L ở TDP Phúc Lý 2, phường Minh Khai, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội điều khiển xe máy SUFAT màu nâu, kiểu dáng xe Dream, biển kiểm soát 33M5-8285 mang theo 01 chiếc kéo bằng kim loại có tay cầm màu xanh dài 20cm, chiều rộng tay cầm 10cm, đến khu vực cánh đồng Gò Bàn thuộc Cụm 6, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội để lấy trộm hoa Ly. Khi Linh đến ruộng hoa Ly của anh Chu Hữu V, sinh năm 1984 ở TDP Hạ 11, phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, quan sát hoa Ly chuẩn bị đến lúc thu hoạch. Linh dựng xe máy trên đường (cách ruộng hoa khoảng 30m), rồi vào vườn hoa dùng kéo cắt được 235 cành (cây) hoa Ly, mỗi cây có 05 bông hoa (05 tai), chiều dài cây khoảng 1,1m rồi bó thành 04 bó để lên xe máy đi về nhà. Khi Linh đi được khoảng 40m thì bị anh Nguyễn Văn H, sinhn năm 1996 ở số 2, ngõ 64 phố Trung Kiên, phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm phát hiện bắt giữ.

Tang vật thu giữ: 01 xe máy SUFAT màu nâu, kiểu dáng xe Dream, biển kiểm soát 33M5-8285; 01 chiếc kéo bằng kim loại có tay cầm màu xanh dài 20cm, chiều rộng tay cầm 10cm và 235 cây hoa Ly, mỗi cây có 05 bông hoa, chiều dài cây khoảng 1,1m.

Tại Kết luận định giá số 10/KL-HĐĐGTS ngày 02/3/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đan Phượng, kết luận: “235 cây hoa Ly, chuẩn bị đến thời gian thu hoạch, mỗi cây cao trung bình 1,1m, mỗi cây có 05 hoa có giá trị 235 x 25.000 đồng = 5.875.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 29/CT-VKS-ĐP ngày 12 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Vương Công L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vương Công L đã khai nhận hành vi của mình như nội dung nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vương Công L về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Linh từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về dân sự bị hại không yêu cầu gì về việc bồi thường dân sự nên không đề nghị xem xét. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo sắt, 01 biển số 33M5-8285; tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe máy SUFAT màu nâu, kiểu dáng xe Dream.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Vương Công L đã khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 23/02/2023, tại khu vực cánh đồng trồng hoa ở Cụm 6, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội của anh Chu Hữu V, bị cáo Vương Công L đã dùng chiếc kéo bằng kim loại để cắt trộm 235 cây hoa Ly của anh Việt, có tổng trị giá là 5.875.000 đồng. Sau khi trộm cắp số hoa trên, Linh bó lại và để lên xe máy, mục đích đem đi bán lấy tiền, khi Linh đi được khoảng 40m thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vương Công L đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử phạt tù về tội Không tố giác tội phạm, tuy đã được xóa án nhưng thể hiện bị cáo không có ý thức sửa chữa, nay lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại có đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi để trả cho bị hại và tội phạm bị cáo thực hiện là tội ít nghiêm trọng. Như vậy, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo Vương Công L là lao động tự do, không có điều kiện về kinh tế và thu nhập ổn định để đảm bảo cho việc thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Chu Hữu V đã được nhận lại tài sản là 235 cây hoa Ly, anh Việt không yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường dân sự đối với bị cáo nên không phải xem xét.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Vương Công L khai 01 chiếc xe máy SUFAT màu nâu, kiểu dáng xe Dream, có biển kiểm soát 33M5-8285 do Linh mua của một người nam giới tên Đoàn (không rõ lai lịch) với số tiền 1.000.000 đồng, không có giấy tờ mua bán xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nguồn gốc chiếc xe và xác định được theo số khung thì người đứng tên chủ xe là anh Giang Trường N, sinh năm 1981 ở thôn Liên Minh, xã Thụy An, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Anh Nam khai chiếc xe trên được mua và đăng ký tên anh, sau đó anh Nam đã bán lại xe nhưng không nhớ bán cho ai. Chiếc xe có số máy và biển số không phù hợp với chiếc xe đăng ký tên anh Nam và chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, do bị cáo Linh sử dụng xe này để phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Vật chứng là 01 chiếc kéo bằng kim loại có tay cầm màu xanh dài 20cm là đồ vật bị cáo Linh dùng vào việc phạm tội và chiếc biển số: 33M5-8285 do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo Vương Công L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vương Công L 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam là ngày 23/02/2023.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được trả lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường dân sự nên không phải xem xét.

+ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại, dài 20cm, tay cầm có màu xanh và 01 chiếc biển số: 33M5-8285.

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SUFAT, kiểu dáng Dream màu nâu, số máy: VTT32JL1P52FMH003884, số khung: VPJDCG013PJ061580 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Vương Công L (Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/4/2023 với Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vương Công L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Vương Công L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ