vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Q đối với ông Lê Thành T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Q được ly hôn với ông Lê Thành T. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Q tranh chấp ly hôn với Lê Thành T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Q đối với ông Lê Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bỉnh;

2. Ông Nguyễn Văn Lên.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Dung – Thư ký Toà án.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 58/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2023/QĐST-DS ngày 15 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1997; địa chỉ: Số xx, ấp PC, xã HTT, huyện TT, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Lê Thành T, sinh năm 1993; địa chỉ: Số xy, ấp BC, xã TH, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Q với ông Lê Thành T xác lập quan hệ vợ chồng có tổ chức lễ cưới năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TH, thị xã Kiến Tường vào năm 2018. Đời sống chung vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau về mọi mặc trong cuộc sống, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau; vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay bà Q yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Không có con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Q xác định không có nợ chung với ông T.

Bị đơn ông Lê Thành T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q.

Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn ông T vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tố tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Thị Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Thành T. Căn cứ theo Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “tranh chấp ly hôn”, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An theo thủ tục sơ thẩm.

Nguyên đơn bà Q có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hợp lệ và bị đơn ông T vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ theo Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về quan hệ hôn nhân; không yêu cầu giải quyết về con chung, cấp dưỡng; không tranh chấp về tài sản chung và thừa nhận không có nợ chung với bị đơn. Bị đơn ông T không có yêu cầu phản tố trong vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giải quyết hậu quả theo quy định pháp luật.

Theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và sự thừa nhận của đương sự thì bà Q và ông T xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạnh Hưng, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An vào ngày 26/01/2018 là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Q với ông T là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau; vợ chồng đã sống ly thân; ông T không đến Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng và vắng mặt tại các phiên tòa. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Q với ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Q đối với ông T.

Về con chung: Bà Q xác định không có con chung với ông T nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Q trình bày không có nợ chung với ông T nên không đề cập.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Căn cứ vào Điều 53, Điều 56 và khoản 1 Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Q đối với ông Lê Thành T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Q được ly hôn với ông Lê Thành T.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nợ chung.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng; chuyển tiền tạm ứng án phí bà Q đã nộp theo Biên lai số 0000161 ngày 10 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường sang thi hành án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ