vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Hoàng A

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Hoàng A được ly hôn với ông Trịnh Quang D. Về con chung: Giao con chung là cháu Trịnh Phan Hoàng Ng, sinh ngày 01/01/2017 cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Hoàng A
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-7-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Dhiểu Hmŏk và bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phi Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28/7/2023, tại Phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/4/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Hoàng A, sinh năm 1987 – vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số X, đường Y, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Bị đơn: Ông Trịnh Quang D, sinh năm 1980 – vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn S, xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Hoàng A trình bày có nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông D tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk ngày 18/12/2015. Sau khi kết hôn được một thời gian thì giữa hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Hai vợ chồng thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, xung đột lẫn nhau về cách sống do ông D không có trách nhiệm nuôi con. Dần dần hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, vợ chồng bà đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2018 đến nay. Vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.

Về con chung, quá trình chung sống, vợ chồng bà có 01 con chung là cháu Trịnh Phan Hoàng Ng, sinh ngày 01/01/2017. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà A yêu cầu ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 3.000.000 đồng/tháng. Trước thời điểm mở phiên tòa, bà A rút yêu cầu này, không yêu cầu ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Bà A xác định không có tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trịnh Quang D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến

Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Hoàng A về quan hệ hôn nhân, về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 10/4/2023, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và văn bản từ chối lựa chọn thủ tục hòa giải tại Tòa án, ngày 14/4/2023 Tòa án thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, ngày 14/4/2023 nguyên đơn nộp biên lai thu tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý vụ án là đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ là đúng quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về trình tự thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông D là hợp pháp được pháp luật bảo vệ, đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân UBND xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk ngày 18/12/2015. Sau khi kết hôn, bà A và ông D sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, do bất đồng quan điểm sống, hiện nay bà A và ông D đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Kết quả xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà A và ông D thì địa phương xác định: Bà A và ông D đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho bà A được ly hôn với ông D là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà A và ông D có 01 con chung là cháu Trịnh Phan Hoàng Ng, sinh ngày 01/01/2017; bà A yêu cầu được nuôi cháu Ng đến khi đủ tuổi thành niên. Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyện vọng bà A là chính đáng, cháu Ng còn nhỏ tuổi, giới tính nữ nên cần có sự chăm sóc của mẹ. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, ông D mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến của mình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, giao cho bà A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Ng cho đến khi đủ tuổi thành niên là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trước thời điểm mở phiên tòa, bà A có đơn xin rút yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử đình chỉ không xem xét giải quyết trong vụ án này. Bà A có quyền khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung bằng vụ án khác khi có đơn yêu cầu.

Về tài sản: Bà A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn bà A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với Điều 144, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5; khoản 4 Điều 70; khoản 2 Điều 71; Điều 144; Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Hoàng A

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Hoàng A được ly hôn với ông Trịnh Quang D.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trịnh Phan Hoàng Ng, sinh ngày 01/01/2017 cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.

Ông Trịnh Quang D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Phan Hoàng A về việc yêu cầu bị đơn ông Trịnh Quang D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 3.000.000 đồng/tháng. Nguyên đơn bà Phan Hoàng A có quyền khởi kiện lại yêu cầu này theo quy định của pháp luật.

4. Về tài sản: Nguyên đơn bà Phan Hoàng A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Nguyên đơn bà Phan Hoàng A phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà A đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0018523 ngày 14/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ