- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đặng Thị H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C."
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13-4-2023 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Khúc Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Tăng Tài Thủ
2/ Ông Nguyễn Viết Ngoan
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 02/2023/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXX-ST ngày 28 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Đặng Thị H, sinh năm 1991 (đề nghị vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1987 (vắng mặt lần 2 không lý do)
Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:
Chị và anh C tiến tới hôn nhân thông qua mai mối có tìm hiểu khoảng 01 tháng, thấy hợp nhau nên được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2009. Đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường T, quận T ngày 19/01/2010. C1 sống hạnh phúc đến năm 2018 kể từ khi sinh cháu Bảo T thì sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau. Anh C không quan tâm chăm lo về vấn đề kinh tế của gia đình thường xuyên uống rượu, giao lưu bạn bè, chị có khuyên nhưng anh C không thay đổi. Thời gian ly thân, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm ai và anh C cũng không đến thăm con.
Về tình cảm đối với anh C không còn nữa nên xin ly hôn.
Về con chung: có 03 con chung là cháu Nguyễn Đặng Bảo T1, sinh ngày 18/6/2018, Nguyễn Đặng Bảo N, sinh ngày 02/12/2012 và Nguyễn Đặng Bảo Y, sinh ngày 28/02/2015. Ngoài ra không có con nuôi, con riêng nào khác. Kể từ khi ly thân 03 con chung sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, riêng, nợ: không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn quá trình giải quyết dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh C.
Để giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh C. Tại biên bản xác minh ngày 09/02/2023 của Tòa án nhân dân quận T, địa phương cho biết chị H và anh C là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống anh chị có 03 con chung tên Nguyễn Đặng Bảo T1, Nguyễn Đặng Bảo Y và Nguyễn Đặng Bảo N. Nguyên nhân ly hôn không rõ. Anh C vẫn còn đăng ký thường trú tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Anh C đã đi làm xa và có về nhà.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: chị Đặng Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn C; Về con: giao cháu Nguyễn Đặng Bảo T1, sinh ngày 18/6/2018, Nguyễn Đặng Bảo N, sinh ngày 02/12/2012 và Nguyễn Đặng Bảo Y, sinh ngày 28/02/2015 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu, tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Về tố tụng: theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đây là vụ án về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Văn C có nơi cư trú tại: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị H có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn anh C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh C là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị H cho rằng do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, anh C không quan tâm chăm lo gia đình qua nhiều lần khuyên nhưng không thay đổi. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh C nhiều lần để tham gia tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của chị H, nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của chị H. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh C đã trầm trọng, cuộc sống chung đã không còn tồn tại vì đã ly thân từ đầu năm 2018 đến nay, không ai quan tâm ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị H được ly hôn với anh C.
Về con: theo lời khai của chị H và kết quả xác minh của Tòa án, chị H và anh C có 03 con chung cháu Nguyễn Đặng Bảo T1, sinh ngày 18/6/2018, Nguyễn Đặng Bảo N, sinh ngày 02/12/2012 và Nguyễn Đặng Bảo Y, sinh ngày 28/02/2015. Thời gian ly thân con chung đều sống với chị H, khi ly hôn chị yêu cầu nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Cháu Bảo N và Bảo Y đã trên 07 tuổi, có nguyện vọng được sống với chị H. Do đó, cần tiếp tục giao cháu Bảo N, Bảo Y và Bảo T1 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đương sự không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.
Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: nguyên đơn phải nộp theo quy định.
Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất ý kiến về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định và quyết định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, 227, 228, Điều 235, 238, 262, 264, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, 53, 56, 57, 59, 69, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
Về con chung: giao cháu Nguyễn Đặng Bảo T1, sinh ngày 18/6/2018, Nguyễn Đặng Bảo N, sinh ngày 02/12/2012 và Nguyễn Đặng Bảo Y, sinh ngày 28/02/2015 cho chị Đặng Thị H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Nguyễn Văn C, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Đặng Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0004860 ngày 29/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Cần Thơ; - VKS quận Thốt Nốt; - Chi THA dân sự quận Thốt Nốt; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã Ký Khúc Thị Hồng |