vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thanh T. Cho chị Đặng Thanh T được ly hôn anh Trần Hoài N.

Về con chung: Chị Đặng Thanh T và anh Trần Hoài N có 01 con chung là cháu Trần Quốc Minh H sinh ngày 27/02/2017. Giao con chung Trần Quốc Minh H sinh ngày 27/02/2017 cho chị Đặng Thanh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục kể từ tháng 06/2023 cho đến khi cháu Trần Quốc Minh H trưởng thành đủ 18 t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thanh T. Cho chị Đặng Thanh T được ly hôn anh Trần Hoài N.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HM
THÀNH PHỐ HN
Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15 /06/2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung – Thẩm phán

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kim Dung

2. Bà Tạ Thị Thà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân quận HM.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận HM tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 06 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận HM xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 724/2022/TLST–HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 27 tháng 03 năm 2023; thông báo mở lại phiên tòa ngày 08 tháng 05 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 35/2023 ngày 23 tháng 05 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thanh T, sinh năm 1996

HKTT: 491 NK, phường TT, quận HM, HN.

Chỗ ở: Số 7 ngách 3 ngõ 19 TQD, phường OCD, quận ĐĐ, HN. (Có mặt tại phiên tòa)

Bị đơn: Anh Trần Hoài N, sinh năm 1996

HKTT và chỗ ở: 491 NK, phường TT, quận HM, HN. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác tại Tòa án, nguyên đơn chị Đặng Thanh T trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đặng Thanh T và anh Trần Hoài N tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TT, quận HM, thành phố HN, vào ngày 31/08/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về chung sống tại: Tổ 5, phường TT, quận HM, HN. Thời gian đầu chung sống, cuộc sống hôn nhân của anh chị cũng hạnh phúc, êm đềm như bao gia đình khác, có những lúc vợ chồng cũng xảy ra mâu thuẫn, xích mích, nhưng anh chị cũng làm hòa với nhau, cùng nhau vun vén cuộc sống gia đình, cùng nhau nuôi dạy các con. Tuy nhiên, thời gian gần đây, cuộc sống của anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp là do gánh nặng cuộc sống gia đình, vợ chồng thường xuyên có những bất đồng trong cuộc sống, không có tiếng nói chung dẫn đến những mâu thuẫn và cãi vã, xung đột không đáng có. Mâu thuẫn của anh chị ngày càng nghiêm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống gia đình rơi vào tình trạng căng thẳng, ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc của hai bên rất nhiều. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện làm lành, được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng nhận thấy chị tình yêu không còn, cuộc sống hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không còn đạt được. Chị Đặng Thanh T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Hoài N.

+ Về con chung: Chị Đặng Thanh T và anh Trần Hoài N có 01 con chung là cháu Trần Quốc Minh H sinh ngày 27/02/2017.

Sau khi ly hôn chị Đặng Thanh T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Quốc Minh H, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu Trần Quốc Minh H.

Tại thời điểm Tòa án giải quyết ly hôn, chị T xác nhận không có thai chung với anh Trần Hoài N.

+ Về tài sản chung và nhà đất chung: Chị Đặng Thanh T xác nhận: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về các khoản nợ chung: Chị Đặng Thanh T xác nhận: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về án phí: Chị Đặng Thanh T tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Tại bản tường trình sự việc ngày 05 tháng 04 năm 2023 gửi Tòa án bị đơn anh Trần Hoài N trình bày: Trong thời gian đầu anh và chị T sống hạnh phúc. Tuy nhiên gần đây thường xuyên mâu thuẫn, gây gổ với nhau vì bất đồng trong cuộc sống. Hiện nay cuộc sống vợ chồng anh chị ngày càng bất hòa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay tình cảm của anh và chị Đặng Thanh T không còn. Do đó ly hôn là cách để anh chị có cuộc sống tự do cho mỗi người. Đề nghị Tòa án cho anh chị được ly hôn.

Ngoài bản tường trình sự việc gửi Tòa án thì bị đơn anh Trần Hoài N đã được Tòa án tống đạt và niêm yết văn bản hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa tuy nhiên anh N vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi cho Tòa án

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thanh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Hoài N.

Chị T trình bày, cuộc sống chung vợ chồng giữa chị và anh N không có hạnh phúc, mâu thuẫn giữa chị và anh ngày càng trầm trọng, vợ chồng không có tiếng nói chung thường xuyên cãi nhau. Chị T đã không còn tình cảm với anh N, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N để chị ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị Đặng Thanh T và anh Trần Hoài N có 01 con chung là cháu Trần Quốc Minh H sinh ngày 27/02/2017. Ly hôn chị Đặng Thanh T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Quốc Minh H.

Tại thời điểm tòa án giải quyết ly hôn, chị T xác nhận không có thai chung với anh Trần Hoài N.

Về tài sản chung, nhà đất chung và khoản nợ chung khác: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận HM tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi xét xử thấy rằng: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ quyền hạn của thẩm phán quy định tại Điều 48, Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách tố tụng của đương sự; tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các thông báo và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự và Viện kiểm sát đúng thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại điều 71, điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa tuy nhiên anh N vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh N là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thanh T. Chị Đặng Thanh T được ly hôn anh Trần Hoài N.

Đề nghị giao con chung Trần Quốc Minh H sinh ngày 27/02/2017 cho chị Đặng Thanh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục kể từ tháng 06/2023 cho đến khi cháu Trần Quốc Minh H trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con chung Trần Quốc Minh H đối với anh Trần Hoài N cho đến khi có yêu cầu mới.

- Về tài sản chung, nhà đất chung: Không có nên không đề nghị giải quyết

- Các khoản nợ chung: Không có nên không đề nghị giải quyết.

- Về án phí: Chị T chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, sau phần hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thanh T thuộc những tranh chấp về Hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân quận HM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Trần Hoài N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo mở lại phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa, tuy nhiên anh N vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Hoài N.

Anh Trần Hoài N được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi cho Tòa án nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu thu thập được trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

. Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Đặng Thanh T và anh Trần Hoài N tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường TT, quận HM, thành phố HN vào ngày 31/08/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị về chung sống tại: Tổ 5, phường TT, quận HM, HN. Thời gian đầu chung sống, cuộc sống hôn nhân của anh chị cũng hạnh phúc, êm đềm như bao gia đình khác, có những lúc vợ chồng cũng xảy ra mâu thuẫn, xích mích, nhưng anh chị cũng làm hòa với nhau, cùng nhau vun vén cuộc sống gia đình, cùng nhau nuôi dạy các con. Tuy nhiên, thời gian gần đây, cuộc sống của anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp là do gánh nặng cuộc sống gia đình, vợ chồng thường xuyên có những bất đồng trong cuộc sống, không có tiếng nói chung dẫn đến những mâu thuẫn và cãi vã, xung đột không đáng có. Mâu thuẫn của anh chị ngày càng nghiêm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống gia đình rơi vào tình trạng căng thẳng, ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc của hai bên rất nhiều. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện làm lành, được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng nhận thấy anh chị tình yêu không còn, cuộc sống hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không còn đạt được.

Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh N đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T và anh N không còn quan tâm, yêu thương, giúp đỡ nhau nên cần áp dụng khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thanh T. Cho chị Đặng Thanh T được ly hôn với anh Trần Hoài N.

2.2. Về con chung: Chị Đặng Thanh T và anh Trần Hoài N có 01 con chung là cháu Trần Quốc Minh H sinh ngày 27/02/2017.

Đối với việc nuôi dưỡng cháu Trần Quốc Minh H: Chị Đặng Thanh T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung Trần Quốc Minh H hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay cháu Trần Quốc Minh H đang ở cùng với chị Đặng Thanh T tại số 7 ngách 3 ngõ 19 TQD, phường OCD, quận ĐĐ, HN. Chị Đặng Thanh T đang làm chuyên viên tư vấn thị trường tại Công ty Cổ phần tư vấn và đầu tư giáo dục quốc tế VT có thu nhập khoảng 19.000.000 đồng/tháng. Chị Đặng Thanh T đang thuê nhà tại số 7 ngách 3 ngõ 19 TQD, phường OCD, quận ĐĐ, HN với diện tích 67.8m2. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu Trần Quốc Minh H đang ở ổn định với chị Đặng Thanh T nên cần giao cháu Trần Quốc Minh H sinh ngày 27/02/2017 cho chị Đặng Thanh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với điều kiện thực tế tránh sự xáo trộn cuộc sống của cháu Trần Quốc Minh H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thanh T không yêu cầu anh Trần Hoài N đóng góp tiền nuôi con chung nên tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con chung đối với anh N cho đến khi có yêu cầu mới hoặc bản án, quyết định về cấp dưỡng nuôi con chung có hiệu lực pháp luât khác thay thế.

Anh Trần Hoài N có quyền gặp gỡ, chăm sóc cháu Trần Quốc Minh H không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản chung và nhà đất chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về các khoản nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

2.4. Về án phí: Chị Đặng Thanh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2.5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ¸án phí lệ phí Tòa án và khoản 1.1 mục II Danh mục mức án phí, lệ phí ban hành kèm theo nghị quyết:

Xử:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thanh T. Cho chị Đặng Thanh T được ly hôn anh Trần Hoài N.

2. Về con chung: Chị Đặng Thanh T và anh Trần Hoài N có 01 con chung là cháu Trần Quốc Minh H sinh ngày 27/02/2017.

Giao con chung Trần Quốc Minh H sinh ngày 27/02/2017 cho chị Đặng Thanh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục kể từ tháng 06/2023 cho đến khi cháu Trần Quốc Minh H trưởng thành đủ 18 tuổi và cho đến khi chị T, anh N có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con chung Trần Quốc Minh H đối với anh Trần Hoài N cho đến khi có yêu cầu mới hoặc bản án, quyết định về cấp dưỡng nuôi con chung có hiệu lực pháp luật khác thay thế.

Anh Trần Hoài N có quyền gặp gỡ, chăm sóc cháu Trần Quốc Minh H không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung là động sản và bất động sản: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

5. Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Đặng Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Đặng Thanh T đã nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0050587 ngày 20 tháng 09 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận HM.

Chị Đặng Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Trần Hoài N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án. N¬i nhËn

Cỡ chữ