vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ly hôn giữa chị Ngô Thanh S và anh Nguyễn Văn M.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 01-5-2023 cho chị Ngô Thanh S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Bảo trưởng thành, có khả năng lao động tự lâp được. (Hiện nay cháu Nguyễn Gia Bảo đang ở cùng chị Ngô Thanh S). Anh Nguyễn Văn M không phải cấp dưỡng n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Sang - Minh"
  • Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa chị Ngô Thanh S và anh Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25-12-2023.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con giữa chị S và anh M”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trường Nam.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Huê.

2. Bà Phạm Thị Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2023/TLST - HNGĐ ngày 09-10-2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27-11-2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thanh S; sinh năm 1999.

ĐKHKTT: Xóm Cuối, xã Thành Lợi, huyện V, tỉnh Nam Định.

Nơi ở hiện nay: Thôn Tử Vinh, xã Yên Lương, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1995.

Cư trú tại: Xóm Cuối, xã Thành Lợi, huyện V, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa: Chị S vắng mặt có lý do; anh M vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Ngô Thanh S trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn M tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 15-11-2022 tại Uỷ ban nhân dân xã Thành Lợi, huyện V, tỉnh Nam Định. Sau ngày kết hôn anh chị sống với nhau được 01 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, liên tục xảy ra cãi chửi nhau dẫn đến hạnh phúc gia đình mất dần. Mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng, nên tháng 6-2023 chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Từ thời điểm vợ chồng sống ly thân, chị và anh M không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa.

Nay chị S xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, thời gian vợ chồng sống chung với nhau ngắn nên đến nay tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, chị xin được ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị và anh M có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 01-5-2023. Từ thời điểm vợ chồng sống ly thân, cháu Bảo được chị nuôi dưỡng, anh M không hỗ trợ chị về mặt kinh tế để nuôi con. Nay ly hôn, chị S có nguyện vọng được nuôi con và chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Hiện nay chị làm công nhân tại Công ty TNHH Smart Shirts ở khu Công nghiệp Bảo M, huyện V với mức thu nhập là 5.000.000đ/tháng, nên đủ điều kiện để tiếp tục nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ và các nội dung khác liên quan: Chị và anh M không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn M: Trong quá trình tố tụng, Toà án đã triệu tập anh Nguyễn Văn M đến làm việc và tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, tuy nhiên anh M không đến Toà án làm việc. Vì vậy, toà án không tiến hành hoà giải được.

* Tại biên bản xác M, thu thập chứng cứ, chính quyền địa phương cung cấp như sau: Chị Ngô Thanh S và anh Nguyễn Văn M tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thành Lợi, huyện V vào ngày 15-11-2022; Hiện nay anh M cư trú tại xóm Cuối, xã Thành Lợi, huyện V, tỉnh Nam Định và làm Công nhân tại khu Công nghiệp Bảo M, huyện V, tỉnh Nam Định.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

- Về yêu cầu khởi kiện của đương sự: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Ngô Thanh S và anh Nguyễn Văn M.

+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 01-5-2023 cho chị Ngô Thanh S trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Bảo trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được. Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị S.

+ Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và những vấn đề khác có liên quan: Đương sự xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

+ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Ngô Thanh S phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm Cuối, xã Thành Lợi, huyện V, tỉnh Nam Định. Do đó, Tòa án nhân dân huyện V thụ lý giải quyết vụ án dân sự về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa chị Ngô Thanh S và anh Nguyễn Văn M là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thanh S và anh Nguyễn Văn M tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thành Lợi, huyện V, tỉnh Nam Định vào ngày 15-11-2022, như vậy hôn nhân của chị S và anh M là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị S là do tính tình vợ chồng không hoà hợp; vợ chồng hay cãi chửi nhau dẫn đến hạnh phúc gia đình mất dần; anh chị đã sống ly thân từ tháng 06-2023 đến nay. Như vậy, trong thời gian vợ chồng chung sống chị S và anh M không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không gìn giữ, bảo vệ hạnh phúc gia đình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, anh chị đã có thời gian sống ly thân từ tháng 6-2023 đến nay. Như vậy, việc này trái với quy định tại Điều 19, Điều 21 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xác định: Tình trạng hôn nhân của chị S và anh M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S, xử cho chị S được ly hôn với anh M là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Con chung của chị Ngô Thanh S và anh Nguyễn Văn M là cháu Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 01-5-2023, từ thời điểm anh chị sống ly thân thì cháu Bảo được chị S nuôi dưỡng. Hội đồng xét thấy, từ tháng 6-2023 đến nay cháu Bảo được chị S nuôi dưỡng tốt; chị S có sức khỏe, có công việc và thu nhập ổn định; Cháu Bảo còn nhỏ, đang trong giai đoạn ăn sữa mẹ. Vì vậy, giao cháu Bảo cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của chị S cũng như quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản, công nợ và các nội dung khác có liên quan: Chị S xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Ngô Thanh S phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

1. Xử ly hôn giữa chị Ngô Thanh S và anh Nguyễn Văn M.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia Bảo, sinh ngày 01-5-2023 cho chị Ngô Thanh S trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Bảo trưởng thành, có khả năng lao động tự lâp được. (Hiện nay cháu Nguyễn Gia Bảo đang ở cùng chị Ngô Thanh S).

Anh Nguyễn Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Ngô Thanh S.

Anh Nguyễn Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm non con mà không ai được cản trở, nhưng anh M không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Ngô Thanh S.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Ngô Thanh S phải nộp 300.000đ. Chị S đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0001709 ngày 09-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V được đối trừ (Chị S đã nộp đủ án phí).

4. Quyền kháng cáo: Chị Ngô Thanh S và anh Nguyễn Văn M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ