vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị T ly hôn ông Nguyễn Văn Đ.

2 - Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Kim Th, sinh ngày 30/5/2011 và Nguyễn Hửu T, sinh ngày 27/6/2019 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng (đúng theo nguyện vọng của Nguyễn Thị Kim Th), bà T không cấp dưỡng nuôi con cùng ông Đ sau khi vợ chồng ly hôn. Sau khi ly hôn, người không trực t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con (T-Đ)"
  • Tòa quyết gì? 1 - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị T ly hôn ông Nguyễn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TẬN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22-5-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TẬN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Kiêu

2. Bà Sử Thị Huyền Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Nguyễn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tận, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tận, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/02/2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1988 (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp BL A, xã VBN, huyện Vĩnh Tận, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 01/02/2023, biên bản lấy lời khai ngày 06/3/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:

Bà và ông Đ kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu Tẩn do ông Đ thường đi nhậu, không lo làm ăn nên vợ chồng phát sinh mâu Tẩn, cha mẹ hai bên có hàn gắn, cho ông Đ cơ hội sửa đổi, nhưng ông Đ vẫn không thay đổi, vợ chồng không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim Th, sinh ngày 30/5/2011 và Nguyễn Hửu T, sinh ngày 27/6/2019. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay và hiện nay hai con đang sống chung với ông Đ.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.

Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ;

2. Về quan hệ nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện bà có yêu cầu nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Nay xin thay đổi yêu cầu đối với con chung, cụ thể: Thống nhất giao hai con Nguyễn Thị Kim Th, sinh ngày 30/5/2011 và Nguyễn Hửu T, sinh ngày 27/6/2019 cho ông Đ nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con sau khi vợ chồng ly hôn.

3. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng không tài sản chung, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

4. Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Trần Thị T vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt lần thứ hai, không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn bà Trần Thị T trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đối với người tham gia tố tụng bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là chưa đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể như không tham gia phiên tòa xét xử.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những vấn đề cụ thể như sau, về quan hệ hôn nhân: cho bà Trần Thị T ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ; về quan hệ nuôi con chung: giao cháu Nguyễn Thị Kim Th, sinh ngày 30/5/2011 và Nguyễn Hửu T, sinh ngày 27/6/2019 cho ông Đ trực tiếp nuôi, bà T không cấp dưỡng nuôi con cùng ông Đ sau khi vợ chồng ly hôn; về quan hệ tài sản chung và về nợ chung: không có tranh chấp nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo cho bị đơn ông Nguyễn Văn Đ biết và quy định thời gian để bị đơn có ý kiến về việc khởi kiện “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn bà Trần Thị T. Nhưng bị đơn ông Đ không có ý kiến gì và cung cấp chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Do đó, Tòa án vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Ngày 06/3/2023 Tòa án nhận được đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải của nguyên đơn bà Trần Thị T. Như vậy, được xác định đây là vụ án Tộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “.....Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải”.

Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn ông Nguyễn Văn Đ, nhưng bị đơn ông Đ vắng mặt không có lý do nên HĐXX phải hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa để mở phiên tòa xét xử lần thứ hai đã được tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Đ, nhưng bị đơn ông Đ vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Trần Thị T không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn Đ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện lấy nhau làm vợ chồng, Đ tuổi, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã BM cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2010. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Đ là hôn nhân hợp pháp phù hợp theo quy định tại các điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình băm 2014.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T thấy rằng: Theo bà T trình bày cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện thì mâu Tẫn vợ chồng phát sinh là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường cãi nhau do ông Đ thường hay ăn nhậu, dẫn đến vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu Tẫn ngày càng nhiều không thể khắc phục được và thực tế vợ chồng đã ly thân nhau một thời gian dài từ năm 2020 đến nay. Đồng thời, cha mẹ hai bên có tổ chức hòa giải để vợ chồng hàn gắn, nhưng vẫn không có kết quả. Tại phiên tòa hôm nay, bà T vẫn cương quyết ly hôn với ông Đ. Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án và cho đến tại phiên tòa hôm nay, ông Đ không đến Tòa án để trình bày ý kiến, không tham dự phiên tòa xét xử mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng.

Qua kết quả xác minh, T thập chứng cứ thì tình trạng mâu Tẫn và thời gian ly thân của vợ chồng của bà T, ông Đ là có thật, phù hợp với lời trình bày của bà T nêu trên (bút lục số 26).

Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Đ không khả năng đoàn tụ, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông Đ là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về quan hệ nuôi con chung: Theo bà T xác định vợ chồng có 02 đứa con chung tên Nguyễn Thị Kim Th, sinh ngày 30/5/2011 và Nguyễn Hửu T, sinh ngày 27/6/2019. Khi gửi đơn khởi kiện và được Tòa án thụ lý giải quyết thì bà Ngân yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà T xin thay đổi yêu cầu, cụ thể: giao 02 con chung Nguyễn Thị Kim Th, sinh ngày 30/5/2011 và Nguyễn Hửu T, sinh ngày 27/6/2019 cho ông Đ trực tiếp nuôi, bà không cấp dưỡng nuôi con cùng ông Đ sau khi vợ chồng ly hôn.

HĐXX xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn bà T đối với bị đơn ông Đ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên chấp nhận xem xét yêu cầu thay đổi này của nguyên đơn bà T là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Hơn nữa, từ khi bà T và ông Đ ly thân đến nay thì 02 con (Kim Th, Hửu T) do ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng và phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác. Đồng thời, cháu Nguyễn Thị Kim Th cũng đã có văn bản thể hiện ý kiến cũng như được Tòa án T tập, sau khi cha mẹ (bà T, ông Đ) ly hôn có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với ông Đ. Hiện tại ông Đ cũng chưa thể hiện ý kiến phản bác, yêu cầu gì về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con như ý kiến của bà T nêu ra. Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Thị Kim Th, sinh ngày 30/5/2011 và Nguyễn Hửu T, sinh ngày 27/6/2019 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Theo bà T, vợ chồng không tài sản chung, không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của bà T về tài sản chung và nợ như trên, Tòa án đã nêu trong Thông báo về việc thụ lý vụ án để ông Đ biết, nhưng đến nay ông Đ không có ý kiến gì phản bác ý kiến của bà T và cũng không có yêu cầu gì khác. Như vậy, khi Tòa án giải quyết vụ án này thì các đương sự (bà T, ông Đ) không có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ, do đó HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị T có đơn yêu cầu xin ly hôn nên bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 241 và khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

Áp dụng Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1 - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị T ly hôn ông Nguyễn Văn Đ.

2 - Về quan hệ nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Kim Th, sinh ngày 30/5/2011 và Nguyễn Hửu T, sinh ngày 27/6/2019 cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng (đúng theo nguyện vọng của Nguyễn Thị Kim Th), bà T không cấp dưỡng nuôi con cùng ông Đ sau khi vợ chồng ly hôn.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3 - Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Không xem xét.

4 - Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002709 ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tận; bà T đã nộp Đ án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 22/5/2023); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ