- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò THị C- Lò Văn S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Lò Thị C được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN B Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST Ngày 24-7-2023 "V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn " |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G, TỈNH ĐIỆN B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình H
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý A Th
Bà Lò Thị Th
- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Th, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn M - Kiểm sát viên.
Ngày 24/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2023/TLST - HNGĐ ngày 28/3/2023 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 15/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần G giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị C, sinh năm 1997.
Địa chỉ thường trú: Bản Phiêng P, xã Mùn Ch, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn S, sinh năm 1993
Địa chỉ: Bản Phiêng P, xã Mùn Ch, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24/3/2023, bản tự khai, nguyên đơn chị Lò Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lò Văn S lấy nhau có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mùn Ch, huyện Tuần G tỉnh Điện B vào ngày 03/9/2013. Hôn nhân là tự nguyện không ai bị lừa dối, ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc được đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do anh S nghiện ma tuý. Ngày 29/6/2021 anh S bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đến ngày 01/3/2023 anh S đã thi hành xong Quyết định và trở về địa phương sinh sống. Từ khi cai nghiện về chị C và anh S đã không ở cùng nhau, chị C đã về nhà mẹ đẻ ở cùng bản, không sống cùng anh S nữa. Từ khi ly thân anh chị không còn liên lạc gì với nhau nữa, không có quan hệ sinh lý tình cảm gì. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Lò Văn S
Về quan hệ con chung: Chị Lò Thị C và anh Lò Văn S có 02 con chung: Cháu Lò Thị V, sinh ngày 12/6/2013 và Lò Thị Tr, sinh ngày 10/6/2016. Khi ly hôn chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Lò Thị Tr đến đến tuổi thành niên còn cháu Lò Thị V giao cho anh S trực tiếp nuôi cháu đến tuổi thành niên. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, trả nợ lấy về: chị Ctự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án ngày 28/3/2023, Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của anh Sinh, mặc dù anh S có đăng ký thường trú tại bản Phiêng P, xã Mùn Ch và làm nhà ở riêng song hiện anh S hiện đi làm ăn tại Hà N, một hai tháng mới về nhà một lần, gia đình và địa phương không biết anh S làm gì cụ thể ở đâu nên không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho anh S. Tòa án đã tiến hành tống đạt cho ông H là bố đẻ anh S và niêm yết công khai các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng anh S vẫn không có mặt nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện. Ngày 04/5/2023, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự song anh S vắng mặt không có lý do, Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải được và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật. Ngày 04/5/2023, chị Lò Thị C đã có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, đề nghị Tòa án xét xử vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 03/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo mở phiên tòa xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/6/2023 và đã tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật, anh S vắng mặt lần thứ nhất không có lý do, Tòa án đã hoãn phiên tòa theo luật định.
Tại phiên tòa ngày 20/7/2023, tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị C vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện, bản tự khai. Ngày 04/7/2023, anh Lò Văn S có bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt. Về quan hệ hôn nhân, anh nhất trí như ý kiến chị C về hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn, thừa nhận về nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, hiện nay vợ chồng đã ly thân không còn tình cảm nữa, anh nhất trí ly hôn. Về quan hệ con chung anh nhất trí với nguyện vọng giao con chung khi ly hôn của chị C, cháu Lò Thị Tr được giao cho chị C và cháu Lò Thị V được giao cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật: Về thẩm quyền và trình tự thủ tục Thẩm phán, thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân chấp nhận sự cho nguyên đơn chị Lò Thị C được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn S theo Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Về con chung: Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân gia đình: Chấp nhận sự thoả thuận, giao cháu Lò Thị V, sinh ngày 12/6/2013 cho anh Lò Văn S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, giao cháu Lò Thị Tr, sinh ngày 10/6/2016 cho chị Lò Thị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Chị C, anh S đều không yêu cầu Toà án giải quyêt.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Lò Thị C là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí và có đơn xin được miễn án phí, đề nghị HĐXX miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và địa chỉ của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố Tụng dân sự.
. Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án: Chị Lò Thị C và anh Lò Văn S kết hôn ngày 03/9/2013 đến thời điểm giải quyết, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đang có hiệu lực, do vậy Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Về việc hoãn phiên tòa: Ngày 03/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Tuần G đã tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án song bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 233, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa.
Xét quan hệ hôn nhân, yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị C: Chị C và anh S lấy nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các biện pháp xác minh tình trạng hôn nhân, tống đạt cho người nhà anh C và niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh C song anh C vẫn không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh C đã không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị S, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do, đã thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật, vi phạm các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh C đã tự từ bỏ các quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình. Ngày 04/5/2023, Chị C có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Theo hai biên bản xác minh tình trạng hôn nhân hồi 08 giờ và 09 giờ, ngày 29/3/2023 tại bản Phiêng P, xã Mùn Ch, huyện Tuần G thể hiện về nguyên nhân mâu thuẫn do anh C nghiện ma tuý, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 29/6/2021 tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - LĐXH tỉnh Điện B với thời hạn là 20 tháng. Ngày 01/3/2023 anh C chấp hành xong. Từ khi anh C đi cai nghiện chị C đã về nhà mẹ đẻ, không còn quan tâm đến nhau nữa, không có quan hệ sinh lý tình cảm gì. Tuy nhiên ngày 04/7/2023 anh S đã có mặt tại Tòa án nộp bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, anh C cũng nhất trí ly hôn.
HĐXX xét thấy: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua quá trình Tòa án thu thập chứng cứ xác minh tình trạng hôn nhân, đủ cơ sở khẳng định nguyên nhân mâu thuẫn do anh C nghiện ma tuý khiến hôn nhân của chị C, anh S đã vào tình trạng trầm trọng là có thật và đúng như lời khai của chị C và anh S. Mục đích hôn nhân là vợ chồng gần gũi, thương yêu chăm sóc, quý trọng giúp đỡ lẫn nhau không có, quan hệ hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị C xin ly hôn với anh S, anh S cũng nhất trí, cần được chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Xét nguyện vọng về con chung của chị C và anh S: Chị Lò Thị C và anh Lò Văn S có 02 con chung: Cháu Lò Thị V, sinh ngày 12/6/2013 và Lò Thị Tr, sinh ngày 10/6/2016. Khi ly hôn chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Lò Thị Tr đến đến tuổi thành niên còn cháu Lò Thị V giao cho anh S trực tiếp nuôi cháu đến tuổi thành niên. Qua biên bản xác minh tình trạng hôn nhân và điều kiện nuôi con tại bản Phiêng P, xã Mùn Ch, huyện Tuần G, cho biết chị C, anh S vừa làm ruộng và làm thuê. Anh S sau khi đi cai nghiện về đã tu chí làm ăn đã có thu nhập cũng đủ khả năng nuôi dưỡng con chung. Cháu Lò Thị V cũng có nguyện vọng được ở với bố.
HĐXX căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của cháu Tr và cháu V nguyện vọng và khả năng chăm sóc nuôi dưỡng các con của chị C và anh S. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận sự thoả thuận của chị S và anh C: Quyết định giao cháu Lò Thị V, sinh ngày 12/6/2013 cho anh Lò Văn S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, giao cháu Lò Thị Tr, sinh ngày 10/6/2016 cho chị Lò Thị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
. Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Chấp nhận sự thoả thuận: Chị C, anh S đều không yêu cầu Toà án giải quyêt.
. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Lò Thị C là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị C.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình:
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Lò Thị C được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn S.
2. Về con chung: Giao cháu Lò Thị V, sinh ngày 12/6/2013 cho anh Lò Văn S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, giao cháu Lò Thị Tr sinh ngày 10/6/2016 cho chị Lò Thị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Chị C, anh S đều không yêu cầu Toà án giải quyêt.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị C.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lò Thị C, bị đơn anh Lò Văn S được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện B; - VKSND huyện Tuần G; - Chi cục THADS huyện TG; - UBND xã Mùn C (Nơi ĐKKH); - Đương sự; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HĐXX | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Đình H HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |