vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh S được ly hôn ông Vũ Văn D.

Về con chung: Giao con tên Vũ Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 18/10/2016 cho bà Nguyễn Thị Ánh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông Vũ Văn D không cấp dưỡng cho con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh S được ly hôn ông Vũ Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TƯ NGHĨA
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29-9-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA - TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hậu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Tấn Linh, bà Tạ Thị Anh Pha

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Tiểu Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 162/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 12/9/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh S, sinh năm 1996.

Trú tại: Thôn 1, xã Nghĩa L, huyện Tư Ng, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Vũ Văn D, sinh năm 1993.

Trú tại: Thôn An Hội B, xã Nghĩa K, huyện Tư Ng, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh S và ông Vũ Văn D tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa K, huyện Tư Ng, tỉnh Quảng Ngãi. Trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả, không cùng quan điểm, ông D thiếu trách nhiệm với gia đình, không chăm lo con cái. Vợ chồng không sống chung từ năm 2019 đến nay. Nay xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Vũ Văn D.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Vũ Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 18/10/2016 đang sống cùng bà Sóng tại xã Nghĩa L, huyện Tư Ng, ly hôn bà yêu cầu nhận nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; không yêu cầu ông D cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: không có.

Bị đơn ông Vũ Văn D không có văn bản trình ý kiến:

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân huyện Tư Nghĩa phát biểu ý kiến:

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

- Việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Đối nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 86 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

+ Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Nguyễn Thị Ánh S được ly hôn ông Vũ Văn D; giao con tên Vũ Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 18/10/2016 cho bà S nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; ông D không cấp dưỡng cho con.

- Tài sản chung: không yêu cầu nên không giải quyết; nợ chung: không có.

- Về án phí: nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện ý kiến trình bày của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh S có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn ông Vũ Văn D có mặt tại địa phương tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án nhưng không nhận các văn bản tố tụng, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết theo quy định định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông Vũ Văn D vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trợ ngại khách quan, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh S và ông Vũ Văn D tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa K, huyện Tư Ng, tỉnh Quảng Ngãi là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn mà không hòa giải được, vợ chồng không sống chung từ năm 2019 đến nay, chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Ánh S yêu cầu ly hôn ông Vũ Văn D là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ánh S và ông Vũ Văn D có 01 con chung tên Vũ Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 18/10/2016 đang sống ổn định cùng bà Sóng tại xã Nghĩa L, huyện Tư Ng. Xét nguyện vọng bà S yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nên giao cháu Đ cho bà Sóng tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; về cấp dưỡng cho con, bà S không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ánh S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 39, 147, 177; Điều 227, Điều 235, 266, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh S được ly hôn ông Vũ Văn D.

2. Về con chung: Giao con tên Vũ Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 18/10/2016 cho bà Nguyễn Thị Ánh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông Vũ Văn D không cấp dưỡng cho con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

3. Tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: không có.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ánh S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006593, ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Đều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Tư Nghĩa;

- Chi cục THADS huyện Tư Nghĩa;

- UBND xã Nghĩa Kỳ;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu văn phòng.

Nguyễn Văn Hậu CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Anh Pha Tô Tấn Linh

Nguyễn Văn Hậu

Cỡ chữ