- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13/3/2023 V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hòa;
2. Ông Phan Minh Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/01/2023 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/02/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24/02/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Võ Văn Đ, sinh năm 1989
Địa chỉ: 172/5, khóm Phú Thiện, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx
2. Bị đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1992
Địa chỉ: Số 172/5, khóm Phú Thiện, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
(Nguyên đơn vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Võ Văn Đ trình bày: Anh Đ với chị Lê Thị T chung sống với nhau từ năm 2010, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung tên Võ Phát B, sinh ngày 06/5/2012 và Võ Thị Thúy C, sinh ngày 12/7/2018. Nhưng đến đầu năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, anh Đ thường mời bạn về nhà ăn uống và có say rượu nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, tháng 4/2022 chị T tự ý bỏ nhà đi không về nữa dù anh Đ đã cố gắng liên hệ nhưng không được, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Thời gian gần đây anh Đ phát hiện chị T có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên anh Võ Văn Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị T. Về quan hệ con chung: Sau khi ly hôn, anh Đ yêu cầu được nuôi 02 con chung tên Võ Phát B, sinh ngày 06/5/2012 và Võ Thị Thúy C, sinh ngày 12/7/2018, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có.
Nguyện vọng của con chung: Tại biên bản ghi nhận ý kiến của người chưa thành niên ngày 08/02/2023 cháu Võ Phát B có nguyện vọng được sống với cha.
Đối với bị đơn chị Lê Thị T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Lê Thị T nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị T đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của chị T.
Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh Đ, chị T tại UBND thị trấn Phú Hòa thể hiện: Anh Đ và chị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Hòa. Đối với chuyện mâu thuẫn vợ chồng của anh Đ, chị T thì chính quyền địa phương không rõ.
Tại phiên tòa: Anh Võ Văn Đ vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Lê Thị T vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ được ly hôn với chị T. Về con chung: Giao 02 con chung tên Võ Phát B, sinh ngày 06/5/2012 và Võ Thị Thúy C, sinh ngày 12/7/2018 cho anh Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Đ không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Anh Đ yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn chị Lê Thị T cư trú tại khóm Phú Thiện, thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa hôm nay chị T vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh Võ Văn Đ vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Văn Đ chung sống với chị Lê Thị T có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, anh Đ thường mời bạn về nhà ăn uống và có say rượu nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, tháng 4/2022 chị T tự ý bỏ nhà đi không về nữa dù anh Đ đã cố gắng liên hệ nhưng không được, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Thời gian gần đây anh Đ phát hiện chị T có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Lời khai của anh Đ phù hợp với lời khai của người làm chứng chị Võ Thị Linh (chị ruột của anh Đ) cũng như kết quả thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của anh chị tại nơi cư trú của vợ chồng nên anh Đ đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là có cơ sở.
Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Đ và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ đối với chị T.
Về con chung: Qua chứng cứ anh Đ cung cấp thì anh Võ Văn Đ và chị Lê Thị T có 02 con chung tên Võ Phát B, sinh ngày 06/5/2012 và Võ Thị Thúy C, sinh ngày 12/7/2018 (hiện đang sống với cha). Quá trình giải quyết vụ án cháu B có nguyện vọng sống với cha, bản thân anh Đ có kinh tế ổn định và có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, chị T không có ý kiến gì đối với yêu cầu được tiếp tục được nuôi 02 con chung của anh Đ. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao 02 con chung tên Võ Phát B, sinh ngày 06/5/2012 và Võ Thị Thúy C, sinh ngày 12/7/2018 cho anh Võ Văn Đ được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi 02 con chung thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của 02 cháu; Anh Đ phải tạo điều kiện cho chị T được quyền đến thăm nom, chăm sóc 02 con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết chị T có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đ trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đ là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Văn Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Văn Đ được ly hôn với chị Lê Thị T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 149 ngày 25/10/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn Phú Hòa, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con chung: Anh Võ Văn Đ được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Võ Phát B, sinh ngày 06/5/2012 và Võ Thị Thúy C, sinh ngày 12/7/2018; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị T do anh Võ Văn Đ không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung và nợ chung:
- Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Võ Văn Đ trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
- Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Võ Văn Đ trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh Võ Văn Đ và chị Lê Thị T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
5. Về án phí sơ thẩm: Anh Võ Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0011459 ngày 09/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, anh Võ Văn Đ đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Chị Lê Thị T không phải chịu án phí.
Nguyên đơn anh Võ Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn chị Lê Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã (phường, thị trấn) nơi chị Lê Thị T cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND thị trấn Phú Hòa, h. Thoại Sơn; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên |