vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị V đối với ông Nguyễn Văn P. Xử cho bà V ly hôn ông P.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thu H, sinh ngày 25/6/2009 cho bà Nguyễn Thị V tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị V đối với ông Nguyễn Văn P. Xử cho bà V ly hôn ông P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-6-2023
V/v :“Xin ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Quàng Văn Tiện.

2. Ông Hà Văn Cương.

Thư ký phiên tòa:

Bà Lý Thị Thuỳ Linh - Thư ký tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 về việc “Xin ly hôn”. Theo quyết định xét xử số: 28/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2022/QĐST- HNGĐ ngày 23/6/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1978. Trú tại: Bản H, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1974. Trú tại: Bản T, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 11 năm 2022, bản tự khai và quá trình tố tụng bà Nguyễn Thị V trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn P kết hôn năm 2008, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Sau khi kết hôn ông P về sống chung với bà tại bản H, xã C. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông P không chịu tu chí làm ăn, chơi bời và dính vào tệ nạn xã hội (mắc nghiện ma tuý), sau đó đã từng đi cai nghiện ma tuý 02 lần. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2009 đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên bà có đơn xin ly hôn ông P.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Thu H, sinh ngày 25/6/2009, hiện đang ở cùng bà, bà nhận nuôi con và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con cùng.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có và không kê khai.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông P nhiều lần. Ông P đã được nhận và biết được các văn bản tố tụng của Toà, nhưng cố tình vắng mặt và không hợp tác. Toà án đã kết hợp với chính quyền địa P đến nhà ông P gặp trực tiếp và lấy được lời khai, ông P khai như sau:

Về tình cảm, con cái và các vấn đề khác đúng như bà Nguyễn Thị V trình bày. Tuy nhiên, ông không ly hôn vì vẫn còn yêu thương vợ, con và mong muốn Toà án giải quyết trở lại đoàn tụ và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã phát biểu ý kiến:

- Về quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình xét xử Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Pháp luật và các thủ tục. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ thời điểm thụ lý vụ án và có đơn xin được xét xử vắng mặt; bị đơn đã được tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị xử cho bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Văn P; Về con chung giao cho bà V chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu; về cấp dưỡng bà V không yêu cầu; tài sản chung và nợ chung; vay, nợ chung không có nên không không xem xét; Về án phí bà Nguyễn Thị V chịu án phí xin ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền, tố tụng:

- Vụ án theo đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị V, được Tòa án thụ lý và giải quyết là theo đúng quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

+ Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập yêu cầu ông Nguyễn Văn P đến Tòa án hòa giải và thực hiện các thủ tục tố tụng khác nhưng ông P không chấp hành. Toà án đã kết hợp với chính quyền địa P nơi bị đơn cư trú, tiến hành lấy được lời khai và ông P đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Dó đó, Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

- Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Văn P kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

- Trong quá trình chung sống, vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẫn do ông Nguyễn Văn P chơi bời rồi nghiện ma tuý. Sự việc đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng ông P không tiếp thu. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2009 đến nay và không còn quan tâm tới cuộc sống của nhau, việc ông Nguyễn Văn P không ly hôn cho rằng vẫn còn yêu thương vợ, con là không có cơ sở, lý do này là để gây khó khăn, cản trở việc ly hôn đối với bà Nguyễn Thị V. Căn cứ vào Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã quá trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc quyết định cho anh chị ly hôn là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà V ông P có 01 con chung là cháu Nguyễn Thu H, sinh ngày 25/6/2009, hiện đang ở cùng bà V. Xét khả năng và điều kiện cần tiếp tục để bà V nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Huyền cho đến khi đủ 18 tuổi, (điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu - Theo biên bản lấy lời khai của Toà án đối với cháu Huyền). Ông P không phải cấp dưỡng nuôi con cùng bà V, nhưng được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở và có quyền thay đổi biện pháp nuôi con theo quy định.

Về tài sản chung; vay nợ chung: Bà V xác nhận nhận vợ chồng không có, không kê khai, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị V phải chịu toàn bộ án phí xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị V đối với ông Nguyễn Văn P. Xử cho bà V ly hôn ông P.

2. Về con chung:

- Giao cháu Nguyễn Thu H, sinh ngày 25/6/2009 cho bà Nguyễn Thị V tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.

- Ông Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con cùng bà V, nhưng được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở và có quyền thay đổi biện pháp nuôi con theo quy định.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng theo biên lại số: AA/2021/0003014 ngày 03 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị V và Ông Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ