vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Về hôn nhân: Ông Bùi Ngọc P được ly hôn với bà Lâm Thị Hồng V. Về con chung: Ông Bùi Ngọc P có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 người con chung tên Bùi Ngọc P1–sinh ngày 15/3/2014. Bà Lâm Thị Hồng V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/4/2023
V/v:"Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hường.

2. Bà Võ Thị Thúy Phương.

-Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen -Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương –Kiểm sát viên.

Ngày 12/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 309/2022/TLST-HNGĐ, ngày 12/10/2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/3/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Bùi Ngọc P –sinh năm:1978 (có mặt)

Bị đơn: Bà Lâm Thị Hồng V –sinh năm: 1977 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Bùi Ngọc P trình bày: Ông và bà Lâm Thị Hồng V tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N vào năm 2012. Vợ chồng có chung 01 người con trai tên Bùi Ngọc P1–sinh ngày 15/3/2014. Quá trình vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hợp nhau. Bà V không quan tâm chồng con. Khi con mới 01 tuổi thì bà V đã tự ý bỏ nhà đi cho đến nay, vợ chồng không qua lại với nhau, thỉnh thoảng bà V có về nhà dẫn con đi chơi 1-2 ngày rồi bà V lại đi tiếp. Từ năm 2015, ông và bà V đã sống ly thân, mặc ai người nấy sống. Tình cảm vợ chồng không còn, hạnh P1c gia đình không có nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với bà V. Trong khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân thì con sống cùng với ông tại địa phương. Bà V bỏ đi không quan tâm đến con, khi ly hôn ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu bà V cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không có.

Bà Lâm Thị Hồng V có đơn trình bày: Bà và ông Bùi Ngọc P là vợ chồng và có 01 người con chung tên Bùi Ngọc P1–sinh ngày 15/3/2014. Quá trình vợ chồng chung sống không hợp nhau và đã sống ly thân nhiều năm nay, không còn tình cảm vợ chồng. Nay bà đồng ý ly hôn với ông P và đồng ý giao con chung cho ông P tiếp tục nuôi dưỡng. Do phải đi làm ăn xa nên bà xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết, xét xử vụ án.

Chính quyền địa phương thôn P, xã P, huyện N -Nơi vợ chồng ông P, bà V sinh sống xác nhận: ông P, bà V chung sống không hợp nhau, hai người sống ly thân nhiều năm nay, không qua lại với nhau. Ông P đang nuôi con tại địa phương còn V bỏ đi đâu không rõ nhưng thỉnh thoảng có về địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân ông P được ly hôn với bà V. Khi ly hôn giao 01 người con chung tên Bùi Ngọc P1–sinh ngày 15/3/2014 cho ông P nuôi dưỡng, bà V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lâm Thị Hồng V vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nhưng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa ông Bùi Ngọc P và bà Lâm Thị Hồng V được kết hợp trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 19 ngày 23/4/2012 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Ninh thuận nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Bà Lâm Thị Hồng V có đơn thừa nhận vợ chồng chung sống không hạnh P1c và đã sống ly thân nhiều năm không còn tình cảm vợ chồng. Bà V đồng ý ly hôn với ông P và đồng ý giao con chung cho ông P nuôi dưỡng, bà V không cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, hôn nhân của vợ chồng ông P, bà V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông P.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của vợ chồng ông P, bà V về việc nuôi con chung. Giao cháu Bùi Ngọc P1–sinh ngày 15/3/2014 cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng. Bà V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Ông P phải chịu án phí 300.000 đồng theo pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ: Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

2.Về hôn nhân: Ông Bùi Ngọc P được ly hôn với bà Lâm Thị Hồng V.

3.Về con chung: Ông Bùi Ngọc P có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 người con chung tên Bùi Ngọc P1–sinh ngày 15/3/2014. Bà Lâm Thị Hồng V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

4.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

5.Về án phí: Ông Bùi Ngọc P phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002713 ngày 11/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Ông Bùi Ngọc P đã nộp đủ án phí.

6.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ