- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N - Ngô Văn B"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 29/2023/HNGĐ – ST Ngày: 09/8/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhã Phương.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Lê Khắc Dũng.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết –Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar.
- Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Xuân Kiểm sát viên.
Ngày 09/8/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 87/2023/TLST -HNGĐ, ngày 03 tháng 3 năm 2023; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 03/7/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Chu Thị N, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn Hợp Nhất, xã Nhân L, huyện C, tỉnh L (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn:Ông Ngô Văn B, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn Hạ Long, xã Cư, huyện E, tỉnh Đ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình làm việc tại tòa án nguyên đơn bà Chu Thị Ngoan trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông Ngô Văn B sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện M, tỉnh Đ vào ngày 18/5/2010. Trong cuộc sống hôn nhân do vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng để tiếp tục cuộc sống hôn nhân nhưng tình cảm vẫn không cải thiện được. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy bà Ngoan đề nghị Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn với ông B.
Về con chung: Bà N và ông B có hai con chung là Ngô Minh Đ, sinh ngày 04/10/2010 và Ngô Minh C, sinh ngày 26/02/2014. Theo đơn khởi kiện bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, tuy nhiên hiện nay bà N chưa có công việc ổn định, các con cũng đang sống cùng ông Bình nên quá trình làm việc tại Tòa án bà N đồng ý giao cả hai con chung Ngô Minh Đ và Ngô Minh C cho ông Ngô Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Ngô Văn B đã được Tòa án nhân dân huyện E tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn, không tiến hành hòa giải để các đương sự đoàn tụ và thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện E đã ban hành các văn bản tố tụng, triệu tập các đương sự để tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nhưng bị đơn không tham gia để giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử xử theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/7/2023, Tòa án nhân dân huyện EaKar mở phiên tòa xét xử vụ án, tuy nhiên tại phiên tòa bị đơn ông Ngô Văn B vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Chu Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Ngô Văn B vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt các đương sự. Bà Chu Thị N đề nghị Hội đồng xét xử xem xé t giải quyết cho bà N được ly hôn với ông Ngô Văn B. Bà N đồng ý giao cả hai con chung là Ngô Minh Đ, sinh ngày 04/10/2010 và Ngô Minh C, sinh ngày 26/02/2014 cho ông B được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã ban hành các quyết định, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật; Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị N. Cho bà Chu Thị N được ly hôn với ông Ngô Văn B.
- Về con chung: Giao con chung Ngô Minh Đ, sinh ngày 04/10/2010 và Ngô Minh C, sinh ngày 26/02/2014 cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:Bà Chu Thị N có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện E giải quyết việc hôn nhân, nuôi con chung, đơn khởi kiện của bà Ngoan được Tòa án nhân dân huyện EaKar xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện E.
Về thủ tục mở phiên tòa vắng mặt các đương sự: Tòa án nhân dân huyện E đã tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 03/7/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21/7/2023 cho các đương sự. Tuy nhiên tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
Bà Chu Thị N và ông Ngô Văn B đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện M, tỉnh Đ vào ngày 18/5/2010 nên là hôn nhân hợp pháp. Theo bà N xác định trong cuộc sống hôn nhân do vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù đã cố gắng để tiếp tục cuộc sống hôn nhân nhưng tình cảm vẫn không cải thiện được. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N có nguyện vọng được ly hôn với ông Ngô Văn B.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định không rõ nguyên nhân mâu thuẫn của bà N và ông B là gì, không báo chính quyền địa phương nhưng tình cảm vợ chồng ông B, bà N không hoà thuận và cả hai vợ chồng đã không sống chung với nhau từ lâu. Hiện nay, bà N đã chuyển đi nơi khác sinh sống, ông B đang sinh sống tại địa phương và nuôi hai con là Ngô Minh Đ và Ngô Minh C.
Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị N, cho bà Chu Thị N được ly hôn với ông Ngô Văn B.
Về con chung:Bà N và ông B có hai con chung là Ngô Minh Đ, sinh ngày 04/10/2010 và Ngô Minh C, sinh ngày 26/02/2014. Bà N trình bày do điều kiện kinh tế chưa đảm bảo, các con hiện đang ở với ông Bình nên đồng ý giao cả hai con chung cho ông Bình được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Tại bản tự khai, Ngô Minh Đ và Ngô Minh C đều có nguyện vọng được ở với bố là Ngô Văn B. Để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh về tâm, sinh lý, cũng như để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu là hoàn toàn phù hợp và thỏa đáng nên căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Ngô Minh Đ, sinh ngày 04/10/2010 và Ngô Minh C, sinh ngày 26/02/2014 cho ông B trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (Tròn18 tuổi) là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về trợ cấp nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết
Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đề cập.
{3}Về án phí: Bà Chu Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 203, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, và Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị N.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Chu Thị N được ly hôn với ông Ngô Văn B.
[2]. Về con chung: Giao con chung Ngô Minh Đ, sinh ngày 04/10/2010 và Ngô Minh C, sinh ngày 26/02/2014 cho ông Ngô Văn B được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Bà Chu Thị N được quyền đi lại thăm nom con chung và không ai được cản trở. Tuy nhiên, bà N không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[4]. Về án phí: Bà Chu Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2022/0000831 ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
[5]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./
| Nơi nhậ n - TAND tỉ nh Đ - VKSND tỉ nh Đă; - VKSND huyệ n E; - Chi cụ c THADS huyệ n E; - UBND xã EaPil, huyện M, tỉnh Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩ m phá n - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Nhã Phƣơng |