vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: tuyên xử cho bà Lê Thị A được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.

Về con chung : Giao cháu Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 16/01/2006, cho bà Lê Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền chăm sóc, thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị A - Nguyễn Ngọc Thảo"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: tuyên xử cho bà Lê Thị A được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 29/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/4/2023
Về việc: "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ- TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hoàng

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Viết Xứng

Ông Giang Công Chiến

-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Ông Nguyễn Công Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 229/2022/TLST – HN&GĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HN ngày 04 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Lê Thị A, sinh năm 1985

Trú tại: Đội 2, ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước.

Có đơn xin vắng mặt

*Bị Đơn: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1980

Trú tại: đội 1, ấp Cây Cầy, xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Theo đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 11 năm 2022, nguyên đơn là bà Lê Thị A trình bày:

Về hôn nhân: bà Lê Thị A và ông Nguyễn Ngọc T kết hôn với nhau một cách tự nguyện vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện , tỉnh Bình Phước. Trong thời gian chung sống, giữa bà Lê Thị A và ông Nguyễn Ngọc T sống hạnh phúc đến năm 2018. Từ năm 2018, trở lại đây thì giữa hai người sống không có hạnh phúc mà mâu thuẫn thường xuyên xảy ra. Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên chơi bời, không quan tâm gia đình và đánh đập bà A, bà A đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông T không thay đổi. Hiện tại, tình cảm mà bà Lê Thị A dành cho ông T đã thực sự hết, nếu cứ kéo dài cuộc hôn nhân giữa hai người cũng không có ý nghĩa gì nên bà Lê Thị A yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.

Về con chung: Quá trình chung sống bà Lê Thị A và ông Nguyễn Ngọc T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 10/8/2004 và cháu Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 16/01/2006, bà A có yêu cầu được nuôi con chung là cháu Y và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Ngày 25/02/2022 bà A xin rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết

-Ông Nguyễn Ngọc T vắng mặt suốt trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn. Phân tích các tình tiết của vụ án, tài liệu, chứng cứ được kiểm tra tại phiên tòa, đối chiếu với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị A.

1.Về hôn nhân: Đề nghị tuyên xừ cho bà Lê Thị A được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T

2.Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 16/01/2006, cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Về quan hệ pháp luật: bà Lê Thị A yêu cầu được ly hôn với Nguyễn Ngọc T, yêu cầu giải quyết về con chung, không yêu cầu cấp dưỡng và tài sản chung. Vì vậy, đây là vụ án "Ly hôn" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: do bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T có nơi cư trú tại: đội 1, ấp C, xã h, huyện P, tỉnh Bình Phước. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1, khoản 3 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Lê Thị A có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt, cần áp dụng Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Yêu cầu của đương sự:

[1] Về hôn nhân: bà Lê Thị A và ông Nguyễn Ngọc T kết hôn với nhau một cách tự nguyện vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. (Bản chính GCN kết hôn, do ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Bình Phước ký cấp ngày ngày 11 tháng 5 năm 2004 (BL 06). Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ về điều kiện và thủ tục kết hôn được quy định tại các Điều 8 và 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong thời gian chung sống thì giữa bà Lê Thị A và ông Nguyễn Ngọc T sống với nhau hạnh phúc đến năm 2018. Từ năm 2018 trở lại đây thì giữa hai người sống không có hạnh phúc mà mâu thuẫn thường xuyên xảy ra.

Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên chơi bời, đánh dập bà A, không quan tâm chăm lo cho gia đình, bà A đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông T không thay đổi. Bà Lê Thị A xác định tình cảm mà bà A dành cho ông T đã thực sự hết và có yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.

Xét thấy, cuộc hôn nhân giữa b bà Lê Thị A và ông Nguyễn Ngọc T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Lê Thị A yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T là có căn cứ và được chấp nhận.

[2] Về con chung: quá trình chung sống bà bà Lê Thị A và ông Nguyễn Ngọc T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 10/8/2004 và cháu Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 16/01/2006, bà A có yêu cầu được nuôi con chung là cháu Nguyễn Thị Như Y, còn cháu A đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu. Bà A không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, xét thấy bà Avà ông T đều có điều kiện nuôi con. Tuy nhiên hiện tại cháu Y đang chung sống với bà A và tại biên bản lấy lời khai cháu Y cũng muốn ở với bà A (bút lục 14), ông T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con thể hiện sự thờ ơ với con nên cần giao cháu Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 16/01/2006 cho bà Lê Thị A nuôi dưỡng là phù hợp

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: bà A không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản chung: Các bên đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Các bên phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1, khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9, 51, 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: tuyên xử cho bà Lê Thị A được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc T.

2. Về con chung : Giao cháu Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 16/01/2006, cho bà Lê Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền chăm sóc, thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết

3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị A phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Lê Thị A đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019044 ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kề từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ