vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Cảnh H.

Thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/11/2009 và cấp dưỡng nuôi con chung tại Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự tham gia hoà giải tại Toà án số 86/2022/QĐCN-HGT ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Cảnh H.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ - ST
Ngày 05/10/2023
“V/v Tranh chấp thay đổi người
trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng sau
ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Dung và bà Hoàng Thị Hồng Nhung.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hà Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử công khai vụ án thụ lý số: 203/2023/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Cảnh H, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Thôn Nhật C, xã LC, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Căn nhà số 10, khu tập thể Bộ CHQS tỉnh Vĩnh Phúc, khu Đồi Vọng, ngõ 46 đường HV, phường HH, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 6 năm 2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Nguyễn Cảnh H trình bày: Tại Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự tham gia hoà giải tại toà án số 86/2022/QĐCN-HGT ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã công nhận thuận tình ly hôn cho anh Nguyễn Cảnh H và chị Nguyễn Thị H; Về con chung và cấp dưỡng nuôi con, anh H và chị H thoả thuận. Để chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/11/2009 và cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 13/6/2011 và anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai cháu là 7.000.000đ/tháng kể từ ngày 15/10/2022 cho đến khi cháu T, cháu Đ đủ18 tuổi nH trong quá trình trực tiếp nuôi dưỡng, dạy bảo các con bản thân anh H thấy, chị H không làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm đối với các con.

Thứ nhất, do đặc thù công việc nên chị H hay thường xuyên đi làm về muộn nên việc quản lý các con khó khăn.

Thứ hai, chị H thường xuyên có những lời nói, hành động như mắng, chửi, đuổi các con, có hành động ngược đãi đối với con cái, bắt con ở ngoài nhiều lần. Cụ thể tối 17/11/2022 rạng sáng 18/11/2022 chị H bắt cháu Nguyễn Minh Đ ngủ ngoài hè trong thời tiết khắc nghiệt, giá lạnh.

Thứ ba, về kinh tế, chị H thu nhập hàng tháng không bằng anh H, hiện chị H không có chỗ ở để đảm bảo cho cuộc sống các con.

Thứ tư, việc anh H chu cấp cho con nH các con anh H không nhận được số tiền đó mà số tiền anh cấp dưỡng chị H trả nợ ngân hàng đối với khoản mua ô tô nên anh H đề nghị thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn, giao cho anh được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/11/2009 và cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 13/6/2011 và anh H yêu cầu chị H có trách nhiệm cấp dưỡng việc nuôi con mỗi tháng cùng anh là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn) cho đến khi cháu T và cháu Đ đủ 18 tuổi.

Quá trình hoà giải tại Toà án và tại phiên toà anh H đề nghị mỗi người chăm sóc, giáo dục một con chung và anh được nuôi cháu nào cũng được do Toà án quyết định trường hợp Toà án giao cháu T cho anh nuôi dưỡng, giáo dục thì anh vẫn để cháu T học hết cấp 2 tại Trường trung học cơ sở Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên xong anh mới chuyển cháu về huyện Yên Lạc để học tập và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Tại Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự tham gia hoà giải tại toà án số 86/2022/QĐCN-HGT ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, chị H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/11/2009 và cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 13/6/2011 và anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho hai cháu là 7.000.000đ/tháng kể từ ngày 15/10/2022 cho đến khi cháu T, cháu Đ đủ 18 tuổi. Quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung chị H luôn chăm sóc, giáo dục 02 cháu tốt nhất, Tuy nhiên, chị H có cách giáo dục khác nhau tùy theo sự hiểu biết và tâm lý của con nên không thể tránh khỏi việc chị H phải phạt và mắng con nH anh H hiểu sai việc chị “ngược đãi con”, chị không đồng ý thay đổi quyền nuôi con theo yêu cầu của anh H với các lý do sau.

Thứ nhất, anh H là bộ đội thường xuyên không có mặt ở nhà.

Thứ hai, về chỗ ở hiện tại anh H chưa có nhà riêng để cho con ở.

Thứ ba, anh H từ khi đang sống cùng chị và các con anh H đã đi theo người phụ nữ khác và hiện tại đang ở cùng và nuôi dạy hai con chung của người phụ nữa khác.

Thứ tư, về điều kiện kinh tế, anh H còn nhất nhiều khoản vay như khoản vay ông bà Quế Tuệ 120.000.000 đồng và khoản vay anh Quyển là 70.000.000 đồng và nhiều khoản nợ khác nên không có đủ khả năng kinh tế để nuôi dạy các con chung.

Thứ năm, hai cháu là Nguyễn Thanh T và Nguyễn Minh Đ có sức khỏe, tâm lý tốt và mong muốn vẫn tiếp tục được ở cùng với chị H.

Do vậy, chị H mong muốn vẫn được tiếp tục chăm sóc giáo dục hai con chung và anh H tiếp tục cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H như đã thoả thuận, chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H.

Tại phiên toà anh Nguyễn Cảnh H và chị Nguyễn Thị H không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Vĩnh Yên về việc giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật. Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử; Căn cứ vào khoản 3, khoản 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, điểm h khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Cảnh H. Buộc chị Nguyễn Thị H có trách nhiệm giao cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/11/2009 cho anh Nguyễn Cảnh H được quyền tiếp tục, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Cảnh H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên giải quyết tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng sau khi ly hôn. Theo quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn đang công tác và sinh sống tại thành phố Vĩnh Yên và anh H, chị H giải quyết công nhận thuận tình ly hôn tại Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, điểm h khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung: Anh Nguyễn Cảnh H và chị Nguyễn Thị H là vợ chồng nH đã ly hôn theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự tham gia hoà giải tại Toà án số 86/2022/QĐCN-HGT ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã công nhận anh Nguyễn Cảnh H và chị Nguyễn Thị H đều thuận tình ly hôn; Về con chung: Chị H được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/11/2009 và cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 13/6/2011. Anh H có trách nhiệm cấp dưỡng cho hai cháu với mức cấp dưỡng 7.000.000đ/tháng kể từ ngày 15/10/2022 cho đến khi cháu T và cháu Đ đủ 18 tuổi. Nay anh H đề nghị nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục một trong hai con chung.

Xét thấy, về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung của anh Nguyễn Cảnh H thấy, anh H là Sỹ quan quân đội và công tác tại huyện Đội huyện Yên Lạc, công ăn việc làm và thu nhập đều ổn định và được ông Nguyễn Văn Minh là bố đẻ tạo điều kiện có nhà ở tại thôn Nhật Chiêu 4, xã Liên Châu, huyện Yên Lạc để ở, anh H là sỹ quan quân đội nên thường xuyên phải trực chiến nên hạn chế về thời gian nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Tuy nhiên, tại phiên toà anh H cung cấp cho Toà án thông báo số 750/TB-BCH của Ban Chỉ huy quân sự huyện Yên Lạc về việc giải quyết cho quân nhân chuyên nghiệp được nghỉ trực vào các buổi tối khi Toà án giao con cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung của chị Nguyễn Thị H thấy, chị H là giáo viên tin học tại trường tiểu học HH, thành phố Vĩnh Yên và hiện đang biệt phái làm công tác tại Phòng Giáo dục thành phố Vĩnh Yên có việc làm và thu nhập ổn định, ngoài chỗ ở tập thể của Bộ Chỉ huy quận sự tỉnh Vĩnh Phúc anh H được mượn để ở và anh H đã giao cho chị H ở để nuôi dạy con sau khi ly hôn, chị H còn được ông Nguyễn Công Quế là bố đẻ tặng cho nhà đất tại thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên.

Như vậy, anh H và chị H đều có đủ điều kiện kinh tế và chỗ ở, thời gian để nuôi dạy các con, sau khi anh H và chị H ly hôn chị H là người tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung, chị H cũng đã có gắng chăm lo đầy đủ cho các con đầy đủ. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung chị H đã có hành vi giáo dục như phạt các con quá đà dẫn đến một số lần hai cháu bị phạt phải ngủ ngoài hành lang nhà vào mùa đông, không đảm bảo sức khoẻ và có thể ảnh hưởng đến tâm lý phát triển của hai con chung (từ BL 01 đến 20 và USB kèm theo hồ sơ), tại biên bản lấy lời khai của cháu Nguyễn Thanh T và cháu Nguyễn Minh Đ đều xác nhận chị H có phạt hai cháu như chị H đã trình bày và đều có nguyện vọng được tiếp tục được ở với chị Nguyễn Thị H. Tuy nhiên, việc chị H cùng một lúc phải nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả hai cháu cũng sẽ gặp nhiều khó khăn về kinh tế và thời gian vì các cháu đều đang tuổi trưởng thành, để đảm bảo nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung được tốt nhất và cũng đảm bảo quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung và điều kiện nuôi dạy con chung của anh H và chị H. Hội đồng xét xử thấy việc giao cho mỗi người chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng một con chung là phù hợp với quy định của pháp luật cũng là đảm bảo cho các cháu có điều kiện được chăm sóc, giáo dục và ăn học được tốt nhất, đồng nghĩa với việc Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Cảnh H yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục một con chung.

Do anh H đang còn công tác và là quân nhân quân đội, hạn chế hơn về mặt thời gian nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung, hiện cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/11/2009 đã tự chăm lo được cho bản thân, cũng như tại phiên toà anh H cũng có quan điểm nếu được giao cháu T cho anh nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục thì anh cũng đảm bảm đưa đón cháu T ăn học tại Vĩnh Yên đến khi cháu học hết cấp 2, nên việc Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu T cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp, còn cháu Nguyễn Minh Đ còn nhỏ để chị Nguyễn Thị H, tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên toà anh H đề nghị nếu giao cho anh nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục một con chung và chị H nuôi dưỡng, chăm sóc và giao dục một con chung thì hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau yêu cầu trên là phù hợp.

Về án phí thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Tại phiên toà anh H đề nghị dù chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh thì anh tự nguyện chịu án phí thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Nên anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến phát biểu của việc giải quyết vụ án của kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3, khoản 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, điểm h khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Cảnh H.

Thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/11/2009 và cấp dưỡng nuôi con chung tại Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự tham gia hoà giải tại Toà án số 86/2022/QĐCN-HGT ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Buộc chị Nguyễn Thị H có trách nhiệm giao cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày 16/11/2009 cho anh Nguyễn Cảnh H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Cảnh H và chị Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

2. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Cảnh H tự nguyên chịu toàn bộ án phí thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số: 0005176 ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố thành phố Vĩnh Yên, anh H đã nộp đủ.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Kim Dung Hoàng Thị Hồng Nhung

Đào Văn Tiến

Cỡ chữ