vanban.org

Bản án 29/2023/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 19/09/2023 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Tuyên bố hành vi của Uỷ ban nhân dân huyện Đ không bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Đức Q khi thu hồi đất đối với thửa đất số 29 và 32 tờ bản đồ số 18 và 13, diện tích 381,3m2, toạ lạc tại: Tổ dân phố 8, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là trái pháp luật.

2. Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ ông Trần Đức Q theo đúng quy định pháp luật. Về án phí hà nh chí nh sơ thẩ m: Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; áp dụng khoản 2 Điề u 32 Nghị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Trần Đức Q"
  • Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố hành vi của Uỷ ban nhân dân huyện Đ không bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Đức Q khi thu hồi đất đối với thửa đất số 29 và 32 tờ bản đồ số 18 và 13, diện tích 381,3m2, toạ lạc tại: Tổ dân phố 8, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là trái pháp luật.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Điều 42 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮ K NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HC-ST
Ngày 19-9-2023
V/v khiế u kiện hành vi hành chính
trong lĩnh vực đất đai.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hộ i đồ ng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông K’Tiêng

Các Hộ i thẩ m nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Trung và bà Đỗ Thị Hà

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễ n Minh Tú là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà : Bà Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩ m công khai vụ án hành chính thụ lý số: 11/2023/TLST-HC ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Khiế u kiệ n hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 25/2023/QĐXXST-HC ngày 30-8-2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2023/QĐST-HC ngày 15-9-2023, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Trần Đức Q; địa chỉ: Thôn 5, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn N; địa chỉ: Số 146/59/18/159A, đường V, phường 02, quận B, thành phố Hồ Chí Minh - Văn bản ủy quyền ngày 28-12-2022 - Có mặt.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Đ; địa chỉ: Thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị Kiều L; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ - Văn bản ủy quyền ngày 27-6-2023 - Có đơn xét xử vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị T (Vợ ông Trần Đức Q); địa chỉ: Thôn 5, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phương Cao N; địa chỉ: Số 146/59/18/159A, đường V, phường 02, quận B, thành phố Hồ Chí Minh - Văn bản ủy quyền ngày 15-8-2023 - Có đơn xét xử vắng mặt.

NỘ I DUNG VỤ Á N

1. Theo đơn khởi kiện ngày 28-12-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án , ngườ i khở i kiệ n ông Trần Đức Q trình bày: Năm 1994, ông Trần Đức Q khai hoang diện tích đất 5.890m2, tọa lạc tại: Tổ dân phố 8, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Năm 2001 Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Đ thu hồi đất trên nhưng không ban hành Quyết định thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ. Sau khi bị khiếu nại, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 1017/QĐ-UBND ngày 16-8-2007 về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng chi tiết 1/500 điểm dân cư khối 9 tại tổ dân phố 8, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Quyết định số: 1096/QĐ-UBND ngày 18-6-2008 về việc thu hồi đất của các hộ dân; Quyết định số: 1244/QĐ-UBND ngày 25-6-2008 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, trong đó hộ ông Q được bồi thường, hỗ trợ số tiền 115.806.500đồng. Ngày 10-9-2010, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 1858/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bổ sung, trong đó hộ ông Q được bồi thường, hỗ trợ bổ sung 47.805.000đồng. Ngày 08-6-2016 UBND huyện Đ ban hành Quyết định: 1085/QĐ-UBND về việc điều chỉnh một số điều tại Quyết định số: 1017/QĐ-UBND ngày 16-8-2007. Ngày 19-9-2016, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 2058/QĐ-UBND về việc điều chỉnh một phần Quyết định số: 1096/QĐ-UBND ngày 18-6-2008, cụ thể điều chỉnh diện tích thu hồi 5.890m2 còn 381,3m2 (diện tích đất 5.508,3m2 không thu hồi hộ ông Q sử dụng). Ngày 27-9-2018 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 2591/QĐ-UBND về việc huỷ các quyết định số: 1244/QĐ-UBND ngày 25-6-2008 và số: 1858/QĐ-UBND ngày 10-9-2010 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với ông Trần Đức Q nhưng đến nay chưa phê duyệt lại phương án bồi thường, hỗ trợ là trái pháp luật.

Do đó, ông Trần Đức Q khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố: Hành vi của UBND huyện Đ không bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Đức Q đối với thửa đất số 29 và 32 tờ bản đồ số 18 và 13, diện tích 381,3m2, toạ lạc tại: Tổ dân phố 8, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là trái pháp luật và buộc UBND huyện Đ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Trần Đức Q theo đúng quy định pháp luật.

2. Đại diện theo ủy quyền của UBND huyệ n Đ trình bày ý kiến: Điểm dân cư khối 9 (nay là tổ dân phố 8) được UBND huyện Đ phê duyệt quy hoạch xây dựng chi tiết tại Quyết định số: 1017/QĐ-UBND ngày 16-8-2007. Ngày 18-6-2008 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 1096/QĐ-UBND về việc thu hồi đất. Ngày 25-6-2008 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 1244/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân và bổ sung phương án tại Quyết định số: 1858/QĐ-UBND ngày 10-9-2010. Do dự án có một số điều chỉnh nên ngày 19-9-2016 UBND huyện Đ đã ban hành Quyết định số: 2058/QĐ-UBND về việc điều chỉnh một phần Quyết định số: 1096/QĐ-UBND ngày 18-6-2008 về việc thu hồi đất, cụ thể đối với hộ ông Trần Đức Q điều chỉnh diện tích thu hồi 5.890m2 còn 381,3m2. Ngày 27-9-2018 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 2591/QĐ-UBND về việc hủy bỏ Quyết định số: 1244/QĐ-UBND ngày 25-6-2008 và số: 1858/QĐ-UBND ngày 10-9-2010 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, đồng thời giao các cơ quan tham mưu UBND huyện Đ xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân theo quy định hiện hành. Quá trình triển khai, UBND huyện Đ gặp một số khó khăn nên chưa thực hiện việc bồi thường hỗ trợ cho các hộ dân; đã tổ chức nhiều cuộc họp, giao Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất, Phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Đ, UBND thị trấn K và các cơ quan, đơn vị có liên quan phối hợp giải quyết nhưng đến nay vẫn chưa giải quyết dứt điểm cho các hộ dân, trong đó có hộ ông Trần Đức Q. Do đó, UBND huyện Đ đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông giải quyết theo quy định pháp luật.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Phan Thị T: Đồng ý với ý kiến của ông Trần Đức Q.

Tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Yêu cầu Hội đồng xét xử tuyên bố: Hành vi của UBND huyện Đ không bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Trần Đức Q đối với thửa đất số 29 và 32 tờ bản đồ số 18 và 13, diện tích 381,3m2, toạ lạc tại: Tổ dân phố 8, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là trái pháp luật và buộc UBND huyện Đ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Trần Đức Q theo đúng quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, nhữ ng người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Luật Tố tụng hà nh chí nh. Về nộ i dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính , chấp nhận yêu cầ u khở i kiệ n của ông Trần Đức Q.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TOÀ Á N:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhậ n đị nh:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thờ i hiệ u khở i kiệ n: Ông Trần Đức Q khởi kiện vụ án trong thờ i hiệ u khởi kiện quy đị nh tạ i điể m a khoả n 2 Điề u 116 của Luật Tố tụng hành chính.

[1.2]. Về thẩ m quyề n: Căn cứ khoản 4 Điề u 32 Luậ t Tố tụ ng hà nh chí nh, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Căn cứ Quyết định số: 235/QĐ-CTUBND ngày 21-02-2006 của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông về việc giải quyết đơn khiếu nại của các hộ dân; các Quyết định số: 1096/QĐ-UBND ngày 18-6-2008 và số: 2058/QĐ-UBND ngày 19-9-2016 của UBND huyện Đ điều chỉnh một phần Quyết định số: 1096/QĐ-UBND ngày 18-6-2008 về việc thu hồi đất của các hộ dân để thực hiện công trình “Điểm dân cư tổ dân phố 8, thị trấn K, huyện Đ”; các Quyết định số: 1244/QĐ-UBND ngày 25-6-2008, số: 1858/QĐ-UBND ngày 10-9-2010 của UBND huyện Đ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và Quyết định số: 2591/QĐ-UBND ngày 27-9-2018 của UBND huyện Đ về việc hủy bỏ các Quyết định số: 1244/QĐ-UBND ngày 25-6-2008 và số: 1858/QĐ-UBND ngày 10-9-2010 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, trong đó có hộ ông Trần Đức Q, Hội đồng xét xử nhận định: Năm 2001 UBND huyện Đ thu hồi của hộ ông Trần Đức Q diện tích đất 5.890m2, thửa đất số 11, tờ bản đồ độc lập nhưng không ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ. Ngày 18-6-2008 UBND huyện Đ mới ban hành Quyết định số: 1096/QĐ-UBND về việc thu hồi đất. Ngày 25-6-2008 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 1244/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, trong đó hộ ông Trần Đức Q được bồi thường, hỗ trợ số tiền 115.806.500đồng. Ngày 10-9-2010 Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số: 1858/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung, trong đó hộ ông Q được bồi thường, hỗ trợ bổ sung 47.805.000đồng. Tuy nhiên UBND huyện Đ chưa chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Q. Đến ngày 19-9-2016 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 2058/QĐ-UBND điều chỉnh một phần Quyết định số: 1096/QĐ-UBND ngày 18-6-2008 về việc thu hồi đất đối với hộ ông Trần Đức Q từ diện tích thu hồi 5.890m2 (Thửa đất số 11, tờ bản đồ đo độc lập) còn 381,3m2 (Thửa đất số 29, 32 tờ bản đồ địa chính số 18, 13), mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm (BL số 104). Sau khi điều chỉnh quyết định thu hồi đất, UBND huyện Đ không tiến hành các thủ tục theo quy định để phê duyệt lại phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ ông Trần Đức Q.

[2.2]. Điều 42 của Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.”

Điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định số: 197/2004/NĐ-CP của Chính Phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất quy định: “Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất tại thời điểm bồi thường do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi;”

Khoản 2 Điều 74 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.”

Như vậy, ngày 25-6-2008 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 1244/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và được bồi thường, hỗ trợ bổ sung tại Quyết định số: 1858/QĐ-UBND ngày 10-9-2010, trong đó có hộ ông Trần Đức Q nhưng không chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Q. Hiện nay, việc áp giá bồi thường, hỗ trợ tại thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất năm 2008 đối với hộ ông Trần Đức Q là không còn phù hợp, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định số: 197/2004/NĐ-CP của Chính Phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất và khoản 2 Điều 74 của Luật Đất đai năm 2013.

[2.3]. Mặt khác, ngày 27-9-2018 của UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 2591/QĐ-UBND về việc hủy bỏ các Quyết định số: 1244/QĐ-UBND ngày 25-6-2008 và số: 1858/QĐ-UBND ngày 10-9-2010 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân, trong đó có hộ ông Trần Đức Q nhưng đến nay UBND huyện Đ vẫn chưa lập và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Trần Đức Q là trái pháp luật.

[2.4]. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tại phiên tòa và yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đức Q về việc tuyên bố hành vi của UBND huyện Đ không bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Đức Q đối với thửa đất số 29 và 32 tờ bản đồ số 18 và 13, diện tích: 381,3m2, toạ lạc tại: Tổ dân phố 8, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là trái pháp luật và buộc UBND huyện Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ ông Q theo đúng quy định pháp luật.

[3]. Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông Trần Đức Q đượ c chấ p nhậ n nên ngườ i bị kiệ n UBND huyệ n Đ phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ và o khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điề u 32; điể m a khoản 2 Điề u 116; điể m b khoả n 2 Điề u 193 Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng Điều 42 của Luật Đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 74 của Luật Đất đai năm 2013; điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định số: 197/2004/NĐ-CP của Chính Phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất: Chấp nhận yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông Trần Đức Q.

1.1. Tuyên bố hành vi của Uỷ ban nhân dân huyện Đ không bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Trần Đức Q khi thu hồi đất đối với thửa đất số 29 và 32 tờ bản đồ số 18 và 13, diện tích 381,3m2, toạ lạc tại: Tổ dân phố 8, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là trái pháp luật.

1.2. Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ ông Trần Đức Q theo đúng quy định pháp luật.

2. Về án phí hà nh chí nh sơ thẩ m: Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; áp dụng khoản 2 Điề u 32 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về á n phí và lệ phí Toa án:̀

2.1. Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghì n đồ ng ) án phí hành chính sơ thẩm.

2.2. Trả cho ông Trần Đức Q số tiề n 300.000đ (Ba trăm nghì n đồ ng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộ p theo Biên lai số 0000250 ngày 27-3-2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.

3. Quyề n khá ng cá o : Đương sự có mặ t tạ i phiên toà có quyề n khá ng cá o bả n án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mườ i lăm) ngày kể từ ngày tuyên án ; đương sự vắng mặ t tạ i phiên toà có quyề n khá ng cá o trong thờ i hạ n 15 (Mườ i lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ