vanban.org

Bản án 29/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Án phí dân sơ thẩm: Bà Trần Thị X thuộc trường hợp không phải phải chịu án phí.

TAND tỉnh An Giang; VKSND H. Chợ Mới; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hụi"
  • Tòa quyết gì? Án phí dân sơ thẩm: Bà Trần Thị X thuộc trường hợp không phải phải chịu án phí.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 29/2023/DS-ST
Ngày: 09/3/2023
V/v tranh chấp“hợp đồng góp
hụi và vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Thiện Lai

2. Ông Nguyễn Thanh Liêm

Thư ký phiên tòa: bà Triệu Thị Yên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 327/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi và vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Sữ Thị Cẩm V– Sinh năm 1958

Địa chỉ: Ấp Mỹ Hòa B, xã Mỹ Hội Đông, huyện CM, tỉnh AG.

Người đại diện theo ủy quyền của bà V theo văn bản ủy quyền ngày 17/8/2022: Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1983 (Có mặt);

Địa chỉ: Số 477A/24 Quản Cơ Thành, khóm Bình Thới 3, phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị X – Sinh năm 1961 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 19, ấp Mỹ Đức, xã Mỹ Hội Đông, huyện CM, tỉnh AG.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Ngọc N – Sinh năm 1961 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 19, ấp Mỹ Đức, xã Mỹ Hội Đông, huyện CM, tỉnh AG.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai ông Nguyễn Văn Ph đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, do quen biết nhau, bà V có tham gia 02 dây hụi do bà X, ông N làm chủ cụ thể như sau: Dây hụi 10.000.000 đồng, khui ngày 04/02/2020âl (có nhuần 02 tháng 4), gồm 25 hụi viên, bà V (trong giấy hụi ghi là chị Tư Xuân) vào 01 phần và chầu được 21 lần hụi sống. Đến tháng 11/2021 bà X, ông N tuyên bố bể hụi, không gom tiền hụi. Dây hụi này bà X, ông N nợ bà V 210.000.000đ. Dây hụi 5.000.000đ, khui ngày 15/02/2021âl (nhuần 02 tháng 4), có 25 hụi viên, bà V (giấy hụi ghi chị Tư Xuân) vào 01 phần, bà V chầu được 09 lần hụi sống là 45.000.000đ, thì đến lần thứ 10 (tháng 11/2021âl) thì bà X, ông N tuyên bố bể hụi, không gom hụi nữa. Tổng cộng bà X, ông N nợ bà V 02 dây hụi là 255.000.000đ. Ngoài ra, vào ngày 09/7/2020âl bà X, ông N có vay của bà V số tiền 250.000.000đ với lãi xuất 2%/tháng, không hẹn thời gian trả. Bà X, ông N vay để phục vụ gia đình và mua đất nền nhà. Sau khi vay có đóng lãi được 12 tháng là 60.000.000đ. Bà V đã Nều lần yêu cầu bà X, ông N trả lại số tiền hụi và tiền vay còn thiếu 505.000.000đ, nhưng bà X, ông N không trả. Nay ông yêu cầu bà X và ông N liên đới trả cho bà V số tiền hụi 255.000.000 đồng và tiền vay 250.000.000đ, tổng cộng là 505.000.000đ. Không yêu cầu tính lãi đối với 02 khoản tiền này. Bị đơn bà Trần Thị X đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án của bà Sữ Thị Cẩm V và được triệu tập hợp lệ để giải quyết vụ án, nhưng bà X không có ý kiến gì và vắng mặt trong quá trình giải quyết nên không nghi nhận được ý kiến và Hòa giải được. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc N đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án của bà Sữ Thị Cẩm V và được triệu tập hợp lệ để giải quyết vụ án, nhưng ông N không có ý kiến gì và vắng mặt trong quá trình giải quyết nên không nghi nhận được ý kiến và Hòa giải được. Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Ph đại diện theo ủy quyền của bà V rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông N liên đới với bà X trả nợ, vẫn giữ nguyên yêu cầu khác. Bà Trần Thị X, ông Nguyễn Ngọc N đã được triệu tập để tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt không lý do. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định. Về ý kiến giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sữ Thị Cẩm V.

Buộc bà Trần Thị X có nghĩa vụ trả cho bà Sữ Thị Cẩm V số tiền hụi 255.000.000đ; tiền vay 250.000.000đ, tổng cộng 505.000.000đ.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà V, không yêu cầu ông Nguyễn Ngọc N liên đới với bà X trả số nợ 505.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về hình thức: Bà Sữ Thị Cẩm V khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị X trả 505.000.000đ tiền hụi và tiền vay. Bà Trần Thị X có nơi cư trú ấp Mỹ Đức, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bị đơn bà Trần Thị X, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ 2, nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị X, ông Nguyễn Ngọc N là có căn cứ.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Ph đại diện theo ủy quyền của bà V rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông N liên đới với bà X trả số tiền hụi và tiền vay 505.000.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy sự tự nguyện này phù hợp với quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện này.

- Về nội dung: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông Ph đại diện theo ủy quyền của bà V yêu cầu bà Trần Thị X trả 255.000.000đ tiền hụi, 250.000.000đ tiền vay tổng cộng 505.000.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập bà X tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bà X vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, căn cứ Điều 92 có cơ sở xác định số tiền mà bà X còn nợ bà V 255.000.000đ tiền hụi, 250.000.000đ tiền vay, tổng cộng 505.000.000đ và xét buộc bà X phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền này cho nguyên đơn là phù hợp. Nên việc bà V yêu cầu bà X thực hiện nghĩa vụ trả số tiền trên là có cơ sở phù hợp với Điều 463, 471 Bộ luật dân sự.

- Đối với tiền lãi, do bà V không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc N, Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Ph đại diện theo ủy quyền của bà V rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với ông N không phải liên đới với bà X trả số nợ trên cho bà V. Hội đồng xét xử xét thấy sự tự nguyện này phù hợp với quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, nên đình chỉ yêu cầu này. [3]- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Trần Thị X thuộc trường hợp không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 26, 35, 39, 92, 227, 244 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 463, 471 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Sữ Thị Cẩm V. Buộc bà Trần Thị X có nghĩa vụ trả cho bà V số tiền 505.000.000đ (Năm trăm lẻ năm triệu đồng). Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà V đối với yêu cầu ông Nguyễn Ngọc N liên đới trả số nợ trên. Kể từ ngày ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Án phí dân sơ thẩm: Bà Trần Thị X thuộc trường hợp không phải phải chịu án phí. Bà Sữ Thị Cẩm V thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí. Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

Cỡ chữ