vanban.org

Bản án 29/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 09/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thuỵ Thu T1.

Buộc ông Lâm Bá H có nghĩa vụ trả cho bà Hồ Thuỵ Thu T1 số tiền 310.700.000 đồng (ba trăm mười triệu, bảy trăm nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án cò… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hồ Thị Thu Thuỷ KK Lâm Bá Hoàng"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thuỵ Thu T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 224 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 29/2023/DS-ST
Ngày: 09 - 3 - 2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thanh Vân

2. Bà Đặng Thị Mỹ Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Kiều Văn Liêu, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 416/2022/TLST-DS, ngày 14 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST - DS ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2023/QĐST - DS ngày 21 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thuỵ Thu T1, sinh năm 1990; Địa chỉ: số 16B/1 Hoàng Diệu, phường 5, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; Địa chỉ liên lạc: số A212 chung cư Mạc Đỉnh Chi, phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lâm Bá H, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số 172/3 Trần Nhật Duật, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ Thuỵ Thu T1 trình bày:

Do chỗ quen biết nên ngày 12/6/2021 bà Hồ Thuỵ Thu T1 cho ông Lâm Bá H vay số tiền 310.700.000 đồng, có làm biên nhận nợ do ông Hoàng trực tiếp ghi, ký tên nhưng trong biên nhận không ghi ngày, tháng, năm, không thoả thuận lãi suất cũng như thời hạn thanh toán. Từ khi vay đến nay, ông Hoàng không trả được bất kỳ khoản tiền nào cho bà Thuỷ mặc dù bà Thuỷ đã liên hệ nhiều lần nhưng cố tình trốn tránh.

Bà Hồ Thuỵ Thu T1 khởi kiện yêu cầu ông Lâm Bá H có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền đã vay là 310.700.000 đồng (ba trăm mười triệu, bảy trăm nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi suất. Số tiền cho ông Hoàng vay là tiền riêng của bà Thuỷ, không liên quan đến bất kỳ ai và yêu cầu một mình ông Hoàng có trách nhiệm trả số tiền trên. Đồng thời, hiện bà đang sinh sống và làm việc tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, đi lại gặp nhiều khó khăn, nên đề nghị xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn ông Lâm Bá H vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 05/01/2023 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên đã trình bày ý kiến như sau:

Ông Hoàng với bà Thuỷ làm ăn chung nên có quen biết nhau, hiện ông Hoàng làm kinh doanh tại các hội chợ, thường xuyên phải di chuyển giữa các tỉnh thành phố trong phạm vi cả nước. Khoảng tháng 6/2021, công việc kinh doanh cần vốn nên ông Hoàng đã vay của bà Thuỷ nhiều lần với tổng số tiền cộng lại là 310.700.000 đồng, hai bên có làm biên nhận do ông Hoàng trực tiếp viết và ký tên nhưng không ghi ngày, tháng, năm. Do quen biết nên không thoả thuận về lãi suất, thời gian cũng như phương thức thanh toán. Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh Covid-19, việc làm ăn gặp nhiều khó khăn nên ông Hoàng chưa thanh toán được bất kỳ khoản tiền nào cho bà Thuỷ. Ông Hoàng sẽ chịu trách nhiệm trả số tiền 310.700.000 đồng cho bà Thuỷ với phương thức trả dần, mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền trên. Ngoài khoản tiền vay trên thì ông Hoàng không vay của bà Thuỷ khoản tiền nào khác.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Lâm Bá H có nghĩa vụ trả cho bà Hồ Thuỵ Thu T1 số tiền 310.700.000 đồng và không tính lãi suất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Hồ Thuỵ Thu T1 khởi kiện yêu cầu ông Lâm Bá H trả tiền vay. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Hoàng có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố Long Xuyên nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn bà Hồ Thuỵ Thu T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lâm Bá H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo khoản 4 Điều 91; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp.

- Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn căn cứ vào biên nhận nợ không ghi ngày, tháng, năm nhưng có chữ ký, chữ viết của bên vay tiền là ông Hoàng với nội dung“Tôi tên Lâm Bá H ….có mượn số tiền 310.700.000 đồng (ba trăm mười triệu, bảy trăm nghìn đồng) của Hồ Thuỵ Thu T1 …Tôi sẽ có trách nhiệm hoàn trả số tiền này…”. Như vậy, căn cứ nội dung trình bày của bà Thuỷ và biên bản lấy lời khai ngày 05/01/2023, ông Hoàng thừa nhận có vay của bà Thuỷ tổng số tiền 310.700.000 đồng nên đây là sự kiện, tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo nội dung trên xác định được giữa bà Thuỷ với ông Hoàng có xác lập hợp đồng vay tài sản với tổng số tiền 310.700.000 đồng, hợp đồng không xác định thời hạn và không tính lãi suất. Xét thấy, hợp đồng vay tài sản giữa bà Thuỷ với ông Hoàng được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. Việc ông Hoàng không thanh toán số tiền nợ gốc 310.700.000 đồng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay theo hợp đồng, do đó cần buộc ông Hoàng trả số tiền còn nợ cho bà Thuỷ là phù hợp theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Việc ông Hoàng đưa ra phương thức trả dần hàng tháng 5.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết số tiền 310.700.000 đồng nhưng không được bà Thuỷ đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Thuỷ được chấp nhận nên ông Hoàng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 186, khoản 1 Điều 224, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244; Điều 271, Điều 273, Điều 278; Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thuỵ Thu T1.

Buộc ông Lâm Bá H có nghĩa vụ trả cho bà Hồ Thuỵ Thu T1 số tiền 310.700.000 đồng (ba trăm mười triệu, bảy trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Lâm Bá H phải chịu 15.535.000 đồng (mười lăm triệu, năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Hồ Thuỵ Thu T1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.767.500 đồng (bảy triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0001124 ngày 14/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

[3] Về quyền kháng cáo:

Bà Hồ Thuỵ Thu T1 và ông Lâm Bá H vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ