vanban.org

Bản án 29/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng T.

Buộc bà Huỳnh Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Hồng T số tiền 32.616.000 đồng (ba mươi hai triệu sáu trăm mười sáu ngàn đồng) trong đó 20.000.000 đồng tiền gốc và 12.616.000 đồng tiền lãi phát từ hợp đồng vay tài sản. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/DS-ST
Ngày: 06 - 6 - 2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà H Thị Thúy Lành.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bé

2. Ông Võ Thành Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 223/2022/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1985. HKTT: Ấp Tăng Long, xã An Thạnh Đông, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Ấp Đông Hòa, xã Thủy Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp 1, xã Thạnh An, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

(Tất cả có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại tòa, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày: Ngày 20/8/2019, bà H vay của bà T số tiền 20.000.000 đồng. Khi vay, hai bên có lập giấy mượn nợ, thống nhất thời hạn vay là đến ngày 20/6/2020 trả và mức lãi suất được ghi nhận trong giấy nợ là 3%/tháng. Tuy nhiên, đến thời hạn thì bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa Tận, dù bà T đã nhiều lần yêu cầu. Từ ngày vay cho đến nay, bà H không trả tiền nợ gốc và lãi cho bà T. Nay, bà T khởi kiện yêu cầu bà H phải trả số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng và số tiền lãi tính từ ngày vay tiền đến ngày khởi kiện (Tức từ ngày 20/8/2019 đến ngày 20/10/2022 là 38 tháng) với mức lãi suất 1.66%/tháng là 12.616.000 đồng, tổng số tiền là 32.616.000 đồng, phát sinh từ hợp đồng vay tài sản. Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là giấy mượn nợ ghi ngày 20/8/2019.

*Bị đơn – bà Huỳnh Thị H trình bày:

Tại biên bản hòa giải, bà H cho rằng giấy mượn nợ ghi ngày 20/8/2019, số tiền vay 20.000.000 đồng không phải do bà H viết. Số tiền bà H vay của bà T là 30.000.000 đồng, thỏa Tận mức lãi suất khi vay là 3%/tháng. Từ khi vay cho đến cuối năm 2022, bà H có trả dần tiền nợ gốc và đóng tiền lãi theo mùa, một mùa khoảng từ 10.000.000 đồng đến 13.000.000 đồng. Đến khoảng cuối năm 2022, còn lại số nợ gốc là 10.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bà H thừa nhận giấy nợ ngày 20/8/2019, số nợ vay là 20.000.000 đồng như bà T cung cấp. Tuy nhiên, bà H vẫn xác định đã trả cho bà T 10.000.000 đồng tiền gốc và lãi khoảng 20.000.000 đồng. Nay bà H chỉ đồng ý trả cho bà T 10.000.000 đồng tiền gốc không đồng ý trả lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Hồng T khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Nguyên đơn, bị đơn có địa chỉ tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là hợp đồng vay tài sản, Tộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa.

Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Hồng T khởi kiện bà Huỳnh Thị H tranh chấp hợp đồng vay tài sản số tiền gốc 20.000.000 đồng, chứng cứ cung cấp là giấy mượn nợ ngày 20/8/2019. Bị đơn Huỳnh Thị H thừa nhận có ký nhận vay số tiền 20.000.000 đồng nhưng đã trả được 10.000.000 đồng tiền gốc và khoảng 20.000.000 đồng tiền lãi. Tuy nhiên bà H không có chứng cứ chứng minh đã trả khoản tiền này. Bà T không thừa nhận việc bà H đã trả một phần nợ gốc và lãi. Do đó, có cơ sở xác định bà H chưa trả tiền gốc và lãi. Bà T khởi kiện yêu cầu bà H phải trả số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng và số tiền lãi tính từ ngày 20/8/2019 đến ngày 20/10/2022 (38 tháng) với mức lãi suất 1.66%/tháng là 12.616.000 đồng, tổng số tiền là 32.616.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng T được chấp nhận toàn bộ nên bà T không phải nộp án phí. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho bà T. Bà Huỳnh Thị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng T.

Buộc bà Huỳnh Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Hồng T số tiền 32.616.000 đồng (ba mươi hai triệu sáu trăm mười sáu ngàn đồng) trong đó 20.000.000 đồng tiền gốc và 12.616.000 đồng tiền lãi phát từ hợp đồng vay tài sản.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị H phải chịu 1.631.000 đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi mốt ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước. Bà Nguyễn Thị Hồng T không phải nộp án phí. Hoàn trả cho bà T 816.000 đồng tiền tạm ứng án phí DSST theo lai T số 0011247 ngày 28/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ tuyên án.

Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ