vanban.org

Bản án 29/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 19/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nông Xuân Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nông Xuân Tr 36 (ba sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2021, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (19/4/2022) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi Hnh án. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Xuân Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nông Xuân Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HSST
Ngày: 19/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"toà:"Ông Nguyễn Anh Văn.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"Ông Nguyễn Giảng Trường và bà Đỗ Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Bích Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Thắng, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2022/HSST, ngày 10 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:

Nông Xuân Tr, sinh năm 1987.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Xóm Đông Chiêu, xã Cách Linh, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; Nơi ở: Thôn Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Họ và tên bố: Nông Hải Phong, sinh năm 1958; Họ và tên mẹ: Nông Thị Biện, sinh năm 1962; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Nhuận, sinh năm: 1989; Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2012; Tiền sự: Không.

Tiền án: Bị cáo có 03 tiền án.

Tại Bản án số 05/2012/HSST ngày 18/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xử phạt Tr 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại Bản án số 10/2015/HSST ngày 24/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt Tr 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại Bản án số 15/2018/HSST ngày 27/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt Tr 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 27/7/2020, Tr chấp Hnh xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại NH tạm giữ Công an huyện Yên Phong. Có mặt.

Bị hại: Chị Hoàng Thị H, sinh 1994, trú tại: Thôn Phúc Lập, xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, tỉnh H Tĩnh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 19/12/2021, Nông Xuân Tr, sinh năm 1987, trú tại xóm Đông Chiêu, xã Cách Linh, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng (hiện đang trọ tại thôn Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) đi làm về đến phòng trọ. Do hết tiền tiêu sài cá nhân nên Tr nảy sinh ý định quay lại khu nH trọ của anh Nguyễn Văn Triển, sinh năm 1978, ở thôn Trần Xá tìm tài sản của công nhân ở trọ để trộm cắp (do trước đó Tr có trọ ở khu nH trọ của anh Triển nên biết khu nH trọ này thường không khóa cổng). Tr cầm theo một chiếc tua vít mũi 4 cạnh, dài khoảng 12cm có chuôi bằng nhựa màu đen rồi đút vào túi quần phía sau và đi đến khu nH trọ của anh Triển. Tr đi lên tầng 2 của khu trọ thì phát hiện phòng trọ số 04 của chị Hoàng Thị H, sinh năm 1994, trú tại thôn Phúc Lập, xã Kỳ Thượng, huyện Kỳ Anh, tỉnh H Tĩnh thuê khóa cửa ngoài bằng một chiếc khóa hiệu Việt Tiệp. Thấy vậy, Tr dùng tua vít tháo 04 chiếc ốc vít của bản lề khóa cửa. Sau khi tháo được bản lề khóa cửa, Tr đút 04 chiếc ốc vít vào trong túi áo rồi mở cửa đi vào phòng trọ và để bản lề cùng khóa cửa lên chiếc giường ngủ của chị H. Tr đóng cửa phòng lại rồi lục tìm tài sản thì phát hiện 01 chiếc điện thoại di động Samsung A31, màu xanh đen của chị H để trong túi áo khoác treo trong tủ quần áo ở gần giường. Tr lấy chiếc điện thoại trên đút vào túi quần bên phải rồi đi ra khỏi phòng trọ. Khi vừa ra khỏi phòng trọ thì Tr bị người dân phát hiện và truy đuổi. Tr bỏ chạy về phòng trọ. Trên đường bỏ chạy, Tr làm rơi chiếc điện thoại vừa trộm cắp được của chị H. Khi Tr chạy về đến phòng trọ của mình thì bị người dân đuổi kịp và bắt được. Sau đó, người dân đã báo lực lượng Công an đến làm việc.

Ngày 28/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Yên Phong định giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A31, màu xanh đen, đã qua sử dụng của chị Hoàng Thị H.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 97 ngày 30/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Phong kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A31, màu xanh đen, đã qua sử dụng có giá trị còn lại tại thời điểm xảy ra trộm cắp tài sản là 3.600.000 đồng.

Về thu giữ và xử lý vật chứng:

04 chiếc ốc vít thu giữ khi bắt quả tang Nông Xuân Tr;

Ngày 19/12/2021, Cơ quan điều tra đã tiến Hnh khám nghiệm hiện Tr và thu giữ 01 chiếc bản lề cùng 01 chiếc khóa hiệu Việt Tiệp trong phòng trọ của chị H.

Ngày 19/12/2021, Cơ quan điều tra đã tiến Hnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nông Xuân Tr và thu giữ 01 chiếc tua vít, chuôi bằng nhựa màu đen, mũi sắt 04 cạnh dài 12cm trong phòng trọ của Tr.

Đối với chiếc điện thoại Samsung A31 mà Nông Xuân Tr trộm cắp, Cơ quan điều tra đã tiến Hnh truy tìm nhưng đến nay chưa thu hồi được.

Ngày 23/02/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại chị Hoàng Thị H 01 chiếc bản lề cùng 01 chiếc khóa hiệu Việt Tiệp và 04 chiếc ốc vít.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Hoàng Thị H yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc điện thoại bị trộm cắp theo kết luận định giá. Ngoài ra, chị H không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã tHnh khẩn khai nhận về Hnh vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Cáo trạng số: 09/CT-VKSYP ngày 10/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố Nông Xuân Tr về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố Hnh vi phạm tội là đúng và khai nhận: Khoảng hơn 06 giờ ngày 19/12/2021, tại phòng trọ của chị Hoàng Thị H ở thôn Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Tr đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A31, màu xanh đen trị giá 3.600.000đ của chị H với mục đích để bán lấy tiền tiêu sài.

Cũng tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã khẳng định: Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng hơn 06 giờ ngày 19/12/2021, tại phòng trọ của chị Hoàng Thị H ở thôn Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Nông Xuân Tr đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A31, màu xanh đen trị giá 3.600.000đ của chị H, nên đã giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố Nông Xuân Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản". Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo: Nông Xuân Tr từ 30 tháng tù đến 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2021, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi Hnh án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản cho chị H số tiền là 3.600.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc tô vít chuôi bằng nhựa màu đen, mũi sắt 4 cạnh dài 12 cm.

Bị cáo không tham gia tranh luận, đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

[1] Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Yên Phong, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: Do cần tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 06 giờ ngày 19/12/2021, tại phòng trọ của chị Hoàng Thị H ở thôn Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Nông Xuân Tr đã lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động trị giá 3.600.000 đồng của chị H. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực Hnh quyền công tố tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Xuân Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo có 03 tiền án:

Tại Bản án số 05/2012/HSST ngày 18/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xử phạt Tr 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại Bản án số 10/2015/HSST ngày 24/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt Tr 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại Bản án số 15/2018/HSST ngày 27/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt Tr 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 27/7/2020, Tr chấp Hnh xong hình phạt tù.

Vì vậy phạm tội lần này thuộc Tr hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.

Hnh vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những x©m ph¹m trùc tiÕp ®Õn quyÒn së h÷u vÒ tµi s¶n cña chñ së h÷u ®­îc ph¸p luËt b¶o vÖ, mà còn gây mất trật tự trị an an toàn xã hội ở địa phương, nên cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã tHnh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về Hnh vi phạm tội của mình. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc tô vít chuôi bằng nhựa màu đen, mũi sắt 4 cạnh dài 12 cm.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Hoàng Thị H số tiền 3.600.000 đồng.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Nông Xuân Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Nông Xuân Tr 36 (ba sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2021, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (19/4/2022) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi Hnh án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Hoàng Thị H số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi Hnh án có đơn yêu cầu thi Hnh án, các bên không thỏa thuận được lãi suất thì người phải thi Hnh án phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi Hnh án.

Tr hợp bản án được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hnh án dân sự thì người phải thi Hnh án dân sự có quyền tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi Hnh án dân sự. Thời hiệu thi Hnh án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc tô vít chuôi bằng nhựa màu đen, mũi sắt 4 cạnh dài 12 cm.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 300.000 đồng án phí DSST.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THnh viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Giảng Tr

Đỗ Thị Thu Hiền

Nguyễn Anh Văn

Cỡ chữ