vanban.org

Bản án 29/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 13/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao ị cáo Lê Ngọc S cho Uỷ an nhân dân xã Minh H, huyện Hàm Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự. Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc S - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Giao ị cáo Lê Ngọc S cho Uỷ an nhân dân xã Minh H, huyện Hàm Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
  • Căn cứ chính? Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HS-PT.
Ngày 13 - 7 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sơn.

Thẩm phán: Ông Hồ Hữu Việt và ông Nguyễn Đức Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn PH Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Tuyết Hảo - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 07 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 24/2022/TLPT-HS ngày 06 tháng 05 năm 2022 đối với bị cáo Lê Ngọc S do có kháng cáo của bị hại bà Bàn Thị D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HS-ST ngày 25 tháng 03 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Lê Ngọc S, sinh ngày 29/3/2000 tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư tr : Th n 5 T, xã Minh H, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; t n giáo: Kh ng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; chức vụ Đảng, đoàn thể: Kh ng; con ông: Lê Ngọc T và à Hoàng Thị H; có v hạm Quỳnh Y và 01 con; tiền án, tiền sự: Kh ng.

Bị cáo hiện đang ị áp dụng iện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư tr (có mặt).

- Bị hại kháng cáo: Bà Bàn Thị D, sinh năm 1972;

Nơi cư tr : Thôn 5 T, xã Minh H, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (có mặt);

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Phạm Thị Hiền, Luật sư C ng ty Luật h p danh Hùng Vương, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội (có mặt);

Địa chỉ: Số 37 Lê Hồng Phong, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Người làm chứng:

1. Ông hạm Thế T2, sinh năm 1965 (có mặt);

2. Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1974 (có mặt);

3. Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1976 (có mặt);

Cùng tr tại: Th n 5 T, xã Minh H, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI D VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án đư c tóm tắt như sau:

Gia đình ng Lê Ngọc T sinh năm 1974, tr tại th n 5 T, xã Minh H, huyện Hàm Yên có thửa đất giáp ranh với thửa đất của gia đình ng hạm Thế T2 sinh năm 1965, tr cùng th n, tuy nhiên hai gia đình kh ng xác định ranh giới rõ ràng với nhau. Ngày 20/12/2020, gia đình ng Lê Ngọc T thuê nhóm th xây gồm Lý Văn H sinh năm 1972, N ng Thị Đ sinh năm 1974, Hoàng Văn V sinh năm 1973, hạm Văn S sinh năm 1963, cùng tr tại th n 8 T, xã Minh H, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang và Hoàng Văn Đ sinh năm 1990 tr tại th n 5 Minh Quang, xã Minh H để xây dựng tường ằng đá, xi măng để phân định ranh giới với thửa đất của gia đình ông T2.

Khoảng 14 giờ ngày 20/12/2020, ông T2 và v là à Bàn Thị D cho rằng gia đình ng T xây tường lấn sang phần đất của gia đình mình, nên ông T2 và bà D cùng đến ngăn cản kh ng cho nhóm th xây tiếp tục xây dựng. Khi đó ng T và v là à Hoàng Thị H cũng có mặt tại đó. V chồng ng T, bà H cãi, chửi nhau với v chồng ông T2, bà D. Để ngăn cản việc xây dựng v chồng ông T2, bà D đã sử dụng máy ơm, ơm nước phân l n từ chuồng l n của gia đình tưới lên ức tường mà nhóm th xây đang thi c ng. Bà D cầm x m c phân đổ lên tường rào để gây mùi h i thối, khiến nhóm th kh ng thi c ng đư c. Thấy v chồng ông T2, bà D có hành động như trên v chồng ng T, bà H rất ức x c và tiếp tục cãi, chửi nhau to tiếng hơn. Sau đó v chồng ông T2, bà D dùng đất, đá ném về phía v chồng ng T, bà H, thấy vậy v chồng ng T, bà H cũng dùng đất, đá ném về phía v chồng ông T2, bà D. Nhóm th xây thấy hai ên gia đình ném đất, đá nhau nên chạy ra khỏi nơi đang thi c ng.

Lúc này Lê Ngọc S (là con trai ông T, bà H) chở vật liệu xây dựng cho khách quay về, nhìn thấy v chồng ông T2, bà D dùng đá ném về phía ố, mẹ mình nên Lê Ngọc S đi đến thì ị đất đá ném về phía mình, S ực tức vì ị ném cũng nhặt đất, đá ném về phía v chồng ông T2, bà D. Tổng cộng S ném sáu phát, gồm: a phát ném về phía ông T2 nhưng kh ng tr ng, a phát ném về phía à D trong đó hai phát đầu kh ng tr ng, phát thứ a S cầm 01 hòn đá hình đa giác có cạnh sắc kích thước khoảng (08x03)cm, khối lư ng khoảng 150g ằng tay phải đứng cách bà D khoảng 15m ném về phía à D tr ng vào góc trán ên trái của à D, khiến à D ị tH, ngồi xuống đất. Thấy à D ị tH gia đình ng T đi về, nhóm th xây cũng dừng việc xây dựng. Sau đó bà D đư c đưa đến cơ sở y tế điều trị.

Tại Bản kết luận pháp y về thương tích số 65/2021/TgT ngày 10/5/2021 của Trung tâm háp y tỉnh Tuyên Quang kết luận đối với thương tích của à Bàn Thị D:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo vùng trán (vùng mặt) kích thước (4x0,3) cm: 06%. Vỡ l n cả 2 àn xương trán (Xương sọ) điện não kh ng có ổ tổn thương tương ứng: 16%. Vỡ xương ổ mắt trái: 05%.

2. Cơ chế vật gây thương tích: Thương tích vỡ l n xương trán; vỡ xương ổ mắt trái và để lại sẹo như trên là do vật cứng có góc cạnh kh ng xác định hình dạng tác động trực tiếp gây nên. Hai mắt giảm thị lực là do ệnh lý đục thủy tinh thể, kh ng phải do thương tích gây nên.

3. Căn cứ Th ng tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 25% (Hai mươi lăm phần trăm) theo phương pháp cộng tại Th ng tư.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (thuộc T h p quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134, các điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Tuyên ố ị cáo Lê Ngọc S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt ị cáo Lê Ngọc S 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 (Bốn) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/3/2022).

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự;

Buộc ị cáo Lê Ngọc S ồi thường cho à Bàn Thị D chi phí cho việc cứu chữa, điều trị vết tH, phục hồi sức khỏe, thu nhập ị mất của người ị thiệt hại và người chăm sóc, tiền ù đắp tổn thươngất về tinh thần với tổng số tiền là 71.340.000đ (Bảy mươi mốt triệu a trăm ốn mươi nghìn đồng), đư c trừ đi số tiền 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng) ị cáo Lê Ngọc S đã nộp trong quá trình điều tra, hiện đang đư c tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.9048783.00000 tại Kho ạc nhà nước huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo phải ồi thường tiếp cho à Bàn Thị D số tiền 1.340.000đ (Một triệu a trăm ốn mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06 tháng 04 năm 2022, ị hại bà Bàn Thị D có đơn kháng cáo với nội D: Không nhất trí với các tình tiết giảm nhẹ mà tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo (thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; bị cáo nhận thức còn hạn chế); không nhất trí việc Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo phạm tội do có một phần lỗi của bị hại. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tăng mức hình phạt của bị cáo, xem xét chuyển tội danh của bị cáo sang tội Giết người; làm rõ vai trò của những người tham gia hành hung bị hại, xem xét dấu hiệu đồng phạm của những người này trong vụ án; tăng mức bồi thường thiệt hại tổng số tiền 170.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu đồng).

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Bàn Thị D giữ nguyên nội D kháng cáo.

Bị cáo Lê Ngọc S trình bày: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đư c cải tạo tại địa pH như ản án sơ thẩm đã xét xử để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng đảm bảo đ ng quy định pháp luật; đơn kháng cáo của bị hại h p lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đ ng trình tự tố tụng.

- Về nội D: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập đư c trong quá trình điều tra, đánh giá mức độ hành vi phạm tội để xét xử bị cáo Lê Ngọc S mức án 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 (Bốn) năm về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đ ng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Việc ị hại có hành vi đổ nước phân l n vào vị trí gia đình ị cáo đang xây tường rào, rồi hai ên có hành vi ném đá sang nhau, ị cáo thấy ố mẹ ị ném và ản thân ị cáo cũng ị ném nên ị cáo đã nhặt đá ném lại dẫn đến gây thương tích cho ị hại nên ị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi của mình. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ị hại có một phần lỗi là đ ng quy định của pháp luật, kh ng có căn cứ xác định có đồng phạm và chuyển tội danh Giết người như kháng cáo của ị hại.

Về trách nhiệm ồi thường dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận các khoản chi phí h p lý cho việc cứu chữa, điều trị vết thương, phục hồi sức khỏe... với tổng số tiền là 71.340.000 đồng là phù h p.

Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Bàn Thị D, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HS-ST ngày 25 tháng 03 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Bị hại Bàn Thị D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Người bảo vệ quyền và l i ích h p pháp cho bị hại trình bày luận cứ bảo vệ:

- Luật sư cho rằng Cơ quan điều tra kh ng cho đối chất giữa các ên để xác định ai là người ném trước để có căn cứ xác định lỗi là thiếu sót.

- Bị cáo dùng viên đá có cạnh sắc nhọn là hung khí nguy hiểm ném trúng vùng trán của bị hại là vị trí trọng yếu trên cơ thể, bị hại không chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo, vì vậy hành vi của bị cáo cấu thành tội Giết người ở giai đoạn chưa đạt.

- Hành vi của bị cáo dùng đá v cớ ném vào bị hại là có tính chất c n đồ nên kh ng đủ điều kiện để đư c hưởng án treo nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo đư c hưởng án treo là kh ng đ ng.

- Sau khi phạm tội bị cáo không thể hiện sự thăm hỏi, chăm sóc, ồi thường cho bị hại nhưng Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo đư c hưởng tình tiết ăn năn hối cải là chưa thuyết phục.

- Bị hại cung cấp Giấy xác nhận của Phạm Văn S và Lý Văn H có nghe thấy tiếng bà Hoàng Thị H (mẹ bị cáo) nói “Ném chết mẹ nó đi” nhưng chưa đư c Cơ quan điều tra làm rõ, do vậy hành vi của bà H đồng phạm về tội Giết người.

- Về vấn đề bồi thường dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận mức bồi thường tối đa về tổn thươngất về tinh thần tương ứng 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Từ những luận cứ nêu trên người bảo vệ quyền và l i ích h p pháp cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

Bị cáo Lê Ngọc S không có ý kiến tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.

Khi đư c Hội đồng xét xử cho phép nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Ngọc S tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù h p với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Chiều ngày 20/12/2020, sau khi đi chở vật liệu xây dựng thuê cho người khác về đến nhà ố mẹ đẻ thì nhìn thấy ố mẹ mình và v chồng ông T2, bà D đang cãi chửi và ném đất đá lẫn nhau nên ị cáo đi vào xem sự việc như thế nào thì ị v chồng à D ném đất đá tr ng người nên ị cáo cũng c i xuống nhặt đất đá ném về phía ông T2 03 phát nhưng kh ng tr ng, sau đó ị cáo tiếp tục nhặt đá ném về phía à D 03 phát, trong đó 02 phát đầu tiên kh ng tr ng, phát thứ a ị cáo nhặt 01 viên đá hình đa giác có cạnh sắc kích thước khoảng 08cm x 03cm, khối lư ng khoảng 150g ném tr ng vào góc trán bên trái bà D khiến cho à D ị thương tích phải đi điều trị tại cơ sở y tế và ị thiệt hại 25% sức khỏe.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác; xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa pH. Xuất phát từ việc tranh chấp đất đai nên hai gia đình ng Lê Ngọc T, bà Hoàng Thị H (bố mẹ đẻ ị cáo Lê Ngọc S) và ông hạm Thế T2, bà Bàn Thị D đã xảy ra x xát, cãi vã và ném đất đá lẫn nhau gây mất an ninh, trật tự tại địa pH. Trong l c thấy ố mẹ ị ném đá, ản thân ị cáo cũng ị phía ên à D ông T2 ném đá vào tay nên ị cáo S đã có hành vi dùng viên đá là hung khí nguy hiểm ném lại tr ng vùng trán bà Bàn Thị D ị tổn thương 25% sức khỏe. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử ị cáo về tội Cố ý gây thương tích là có căn cứ, đ ng pháp luật.

Xét kháng cáo của ị hại, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập đư c trong quá trình điều tra, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt ị cáo Lê Ngọc S 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 ( ốn) năm về tội “Cố ý gây thương tích” là đ ng người, đ ng tội, đ ng với hành vi phạm tội của ị cáo, mức hình phạt như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đủ nghiêm để răn đe, giáo dục đối với ị cáo.

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử ị cáo về tội cố ý gây thương tích là có căn cứ, đ ng pháp luật. Trong vụ án này ị cáo thấy ố mẹ ị ném, ản thân ị cáo cũng ị ném đá vào người nên ị cáo cũng nhặt đá ném lại và tr ng ị hại chứ kh ng có ai xui ị cáo ném, do đó ị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi của mình. Vì vậy kh ng có đồng phạm và chưa đủ yếu tố cấu thành tội Giết người như ị hại kháng cáo.

Về trách nhiệm ồi thường dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các quy định của pháp luật để uộc ị cáo Lê Ngọc S có trách nhiệm ồi thường cho ị hại Bàn Thị D số tiền 71.340.000đ là phù h p với thương tích mà ị cáo gây ra cho ị hại và chi phí h p lý thực tế cho việc cứu chữa, điều trị. Tại phiên tòa ph c thẩm, ị hại kh ng xuất trình đư c tài liệu, chứng cứ mới h p lệ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên kh ng có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy kh ng có căn cứ chấp nhận toàn ộ kháng cáo của ị hại, cần giữ nguyên ản án hình sự sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù h p pháp luật.

Đối với luận cứ của người ảo vệ quyền, l i ích h p pháp cho ị hại, Hội đồng xét xử thấy: Hội đồng xét xử thấy kh ng có căn cứ Hủy ản án sơ thẩm để điều tra lại nên kh ng chấp nhận.

Về án phí: Bị hại Bàn Thị D phải chịu án phí hình sự ph c thẩm. Bị cáo Lê Ngọc S kh ng phải chịu án phí hình sự ph c thẩm.

Các quyết định khác của ản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, kh ng chấp nhận kháng cáo của ị hại à Bàn Thị D, giữ nguyên ản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang như sau:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (thuộc T h p quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134, các điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 48 Bộ luật Hình sự. Xử phạt ị cáo Lê Ngọc S 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/3/2022).

Giao ị cáo Lê Ngọc S cho Uỷ an nhân dân xã Minh H, huyện Hàm Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

T hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự. Buộc ị cáo Lê Ngọc S ồi thường cho à Bàn Thị D chi phí cho việc cứu chữa, điều trị vết tH, phục hồi sức khỏe, thu nhập ị mất của người ị thiệt hại và người chăm sóc, tiền ù đắp tổn thươngất về tinh thần với tổng số tiền là 71.340.000đ (Bảy mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

Ghi nhận ị cáo Lê Ngọc S đã nộp số tiền 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng), hiện đang đư c tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.9048783.00000 tại Kho ạc nhà nước huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (Theo ủy chi nhiệm lập ngày 07/02/2022). Buộc ị cáo phải ồi thường tiếp cho à Bàn Thị D số tiền 1.340.000đ (Một triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

Khoản tiền phải trả, khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ T hợp pháp luật có quy định khác.

T hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

2. Về án phí: Bị hại Bàn Thị D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự ph c thẩm.

Bị cáo Lê Ngọc S kh ng phải chịu án phí hình sự ph c thẩm.

Các quyết định khác của ản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án ph c thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (13/7/2022)./.

Cỡ chữ