- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Ng Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH THỪA THIÊN H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/HS-ST Ngày: 26/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆTNAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH THỪA THIÊN H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.
Bà Hoàng Hải Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trang, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Quân, Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố H (Địa chỉ: 60 Nguyễn Huệ, phường Vĩnh Ninh, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 281/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Hà Văn N, sinh ngày 23/02/1985 tại tỉnh Thừa Thiên H; nơi cư trú: 6/12/77 đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên H; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Hà Văn A và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có.
Nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, đi học đến lớp 9 thì nghỉ học ở nhà đi làm thuê.
- Ngày 08/01/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên H xử phạt 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 04/2015/HSST).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/9/2021, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Trần Hưng Th, sinh năm 2000; địa chỉ: 6/12/77 Thiên Thai, phường An Tây, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên H. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án: Anh Hà Văn A, sinh năm: 2000; địa chỉ: 29/3/1 đường Đ, phường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 24/6/2021, khi đang ở nhà tại 6/12/77 Thiên Thai, phường An Tây, thành phố H, Hà Văn N thấy cửa phòng ngủ của cháu ruột là Trần Hưng Thịnh không khóa nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Nhìn thấy Thịnh đang nằm ngủ, bên cạnh có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro màu trắng bạc. N đi vào phòng lén lút lấy trộm rồi bỏ đi. Sáng cùng ngày, N đem chiếc điện thoại đến tiệm cầm đồ Toàn Thắng tại địa chỉ 152 Phan Bội Châu, phường Trường An, thành phố H cầm cố cho anh Hà Văn Anh lấy 2.500.000 đồng. Số tiền có được, N tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 160 ngày 12/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H xác định tại thời điểm bị chiếm đoạt: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro trị giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Tại cơ quan điều tra, N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 9 Pro màu trắng bạc, số imei 1: 861126055532437, số imei 2: 861126055532445; 01 giấy biên nhận cầm đồ, đề ngày 24/6/2021 mang tên Hà Văn N, do tiệm cầm đồ Toàn Thắng phát hành.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại chiếc điện thoại di động Redmi Note 9 Pro cho anh Trần Hưng Thịnh. Đối với 01 giấy biên nhận cầm đồ, đề ngày 24/6/2021 tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án. Anh Trần Hưng Thịnh đã tự nguyện bỏ ra số tiền 2.500.000 đồng trả lại cho anh Hà Văn Anh để chuộc lại máy điện thoại. Anh Hà Văn Anh không có yêu cầu gì về dân sự. Anh Thịnh không yêu cầu N hoàn trả số tiền đã bỏ ra.
Tại bản Cáo trạng số 376/CT-VKS-HS ngày 10/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên H đã truy tố bị cáo Hà Văn N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn N từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 giấy biên nhận cầm đồ, đề ngày 24/6/2021 mang tên Hà Văn N, do tiệm cầm đồ Toàn Thắng phát hành. Không ai có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo Hà Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Hà Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 24/6/2021, tại nhà số 6/12/77 Thiên Thai, phường An Tây, thành phố H, Hà Văn N đã lén lút chiếm đoạt của anh Trần Hưng Thịnh 01 điện thoại di đông hiệu Redmi Note 9 trị giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), rồi đem đi cầm cố lấy số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiêu xài cá nhân, nên bị cáo Hà Văn N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố hành vi phạm tội của bị cáo như trên là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng do muốn hưởng lợi từ công sức lao động của người khác nên bị cáo đã phạm tội.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo đã một lần bị Tòa án xử phạt tù về hành vi chiếm đoạt tài sản. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy xử phạt bị cáo Hà Văn N 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 giấy biên nhận cầm đồ, đề ngày 24/6/2021 mang tên Hà Văn N, do tiệm cầm đồ Toàn Thắng phát hành. Bị hại, người có quyền lợi, N vụ liên quan không có yêu cầu về dân sự nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo Hà Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn N 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù, kể từ ngày tạm giam 14/9/2021.
[2] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) giấy biên nhận cầm đồ, đề ngày 24/6/2021 mang tên Hà Văn N, do tiệm cầm đồ Toàn Thắng phát hành.
[3] Về án phí: Buộc bị cáo Hà Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, N vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - T ND T nh TT Huế - Tư pháp - VKSND thành phố H; - Cơ quan C T Huế - Phòng 06 Công an t nh TT H; - Chi cục Thi hành án dân sự tp H; - Bị cáo; - Bị hại; người có ql nv liên quan; - THA HS; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |