vanban.org

Bản án 29/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 07/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng K phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng K cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là Ủy ban nhân dân xã ĐĐ, huyện TĐ, tỉnh Lạng Sơn trực tiếp quản lý, giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng K có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng K - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng K phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HS-ST
Ngày 07- 4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngôn Ngọc Viên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lâm

Ông Đàm Đình Lập

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Hoa, Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 05 tháng 3 năm 1989 tại ĐĐ, TĐ, Lạng Sơn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm PL, xã ĐĐ, huyện TĐ, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở hiện nay: Xóm CP, xã ĐĐ, huyện TĐ, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965 và Hoàng Thị T, sinh năm 1968; có vợ: Đàm Thanh T, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2021 đến ngày 16/11/2021. Sau đó, được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện nay đang tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Văn C, sinh năm 1965; trú tại: PL, ĐĐ, TĐ, Lạng Sơn; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 giờ 25 phút ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại tuyến đường Quốc lộ 4A thuộc xóm ND, xã LL, huyện TA, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an huyện TA phát hiện xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger màu trắng mang biển kiểm soát 12C-103.51 do Nguyễn Hoàng K (sinh năm 1989; trú tại: PL, ĐĐ, TĐ, Lạng Sơn) điều khiển có dấu hiệu nghi vấn. Qua kiểm tra thấy trên xe có 04 công dân Trung Quốc gồm: Lưu Xương T sinh năm 2004; trú tại số 1169, LP, MK, LB, Cảnh Đức T, GT, Trung Quốc, Trình Phát K, sinh năm 1984; trú tại ĐL, CG, LB, Cảnh Đức T, GT, Trung Quốc, Lâm Nại sinh năm 2000; trú tại tòa 20, tổ 2, Giang Đ, Cảnh ĐT, GT, Trung Quốc, Trần Nam sinh năm 1994; trú tại số 136, Bắc Môn, Cảnh Đức Trấn, GT, Trung Quốc, không có giấy tờ xuất nhập cảnh theo quy định. Xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Công an huyện TA đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Cao Bằng để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Cao Bằng thi hành Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hoàng K.

Quá trình điều tra, K khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 28 tháng 10 năm 2021 có một người đàn ông sử dụng tài khoản Wechat “an toàn là bạn” gọi vào tài khoản Wechat “Hoàng K” của K đặt vấn đề thuê K đến tỉnh Cao Bằng đón 04 (bốn) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép rồi đưa về ngã ba Đền Q, huyện HL, tỉnh Lạng Sơn với số tiền 1.000.000 đồng/người. K đồng ý và được người này gửi cho số điện thoại 0838.630.895 để tự liên lạc thống nhất thời gian, địa điểm đón người. Khoảng 21 giờ cùng ngày, K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 12C- 103.51 xuất phát từ huyện TĐ, tỉnh Lạng Sơn đi theo hướng huyện TA đến xã PS, huyện QH, tỉnh Cao Bằng. Lúc này, người đàn ông sử dụng số điện thoại 0838.630.895 thông báo cho K chờ ở bên đường Quốc lộ khoảng 20 phút nữa sẽ có người đến. K làm theo chỉ dẫn, một lúc sau có 04 người đàn ông Việt Nam điều khiển 04 xe mô tô chở theo 04 người Trung Quốc đến chỗ K. Sau đó, K cho 04 người Trung Quốc lên xe và điều khiển xe đi về hướng tỉnh Lạng Sơn nhưng khi đến địa phận xã LL, huyện TA, tỉnh Cao Bằng thì bị lực lượng chức năng phát hiện lập biên bản theo quy định.

Ngày 23 tháng 02 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ban hành bản Cáo trạng số: 16/CTr-VKSCB-P1 truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng K về tội "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo về tội Tổ chức cho người khác nhâ ̣p cảnh trái phép là đúng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Văn C trình bày: Ông là bố đẻ của Nguyễn Hoàng K, do con trai ông không có công việc ổn định nên ông cho tiền để mua ô tô chạy dịch vụ. Ngày 08/01/2019 ông chuyển số tiền 465.000.000đ (Bốn trăm sáu mươi năm triệu đồng) cho Show room Huyndai Phạm Văn Đ, Hà Nội để K mua xe ô tô nhãn hiệu Accent về sử dụng. Chiếc xe này được đăng ký dưới tên con trai ông là Nguyễn Hoàng K, K sử dụng chiếc xe này để phục vụ đi lại và chạy dịch vụ kiếm thu nhập. Đến cuối tháng 9 năm 2021 K bảo với ông muốn đổi xe bán tải về chạy dịch vụ. K đã bán chiếc xe Huyndai và ông cho thêm 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) để mua chiếc xe ô tô Ford Ranger màu trắng, biển kiểm soát 12C – 103.51. Chiếc xe này là tài sản từ tiền của ông cho, mua để sử dụng cho mục đích kinh doanh, là tài sản chung của gia đình, việc K sử chiếc xe này để thực hiện hành vi đưa người nhập cảnh trái phép ông và gia đình không biết nên đề nghị được trả lại.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K về tội "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã viện dẫn nêu trên.

Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng K phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng K từ 24 đến 30 tháng tù. Cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

* Tịch thu phát mại lấy tiền nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại Iphone; 01 (một) điện thoại Masstel của Nguyễn Hoàng K.

* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng K:

+ 01 (một) Chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Ngân hàng MB mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Ngân hàng BIDV mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Ngân hàng AGRIBANK mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ MASTERCARD mang tên Nguyễn Hoàng K.

+ 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER màu trắng. Xe gắn biển kiểm soát 12C – 103.51. Xe đã qua sử dụng. Số khung: MNCUMFF50GW551137. Số máy: P5AT2174451 và 01 (một) Đăng ký xe ô tô mang tên Nguyễn Hoàng K.

Tại phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Hoàng K trình bày lời bào chữa: Về hình phạt mong Tòa xem xét giảm hình phạt, về chiếc xe ô tô mặc dù bị cáo đứng tên mua nhưng là tiền của bố bị cáo cho, mua nhằm mục đích phục vụ chung cho gia đình, mong Tòa xem xét trả lại cho gia đình bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Hoàng K tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm đón người nhập cảnh, động cơ mục đích thực hiện hành vi; xét thấy việc thu thập chứng cứ của cơ quan Điều tra là khách quan, đúng trình tự thủ tục tố tụng. Như vậy, có cơ sở kết luận: Ngày 28/10/2021 Nguyễn Hoàng K được người dùng tài khoản Wechat “an toàn là bạn” thuê đón, đưa 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ tỉnh Cao Bằng đến Ngã ba Đền Quan, huyện HL, tỉnh Lạng Sơn với số tiền 01 triệu đồng/người. K đồng ý và liên lạc với số điện thoại 0803.630.895 để thống nhất thời gian, địa điểm đón người. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 12C - 103.51 đến xóm Khào, xã PS, huyện QH, tỉnh Cao Bằng đón được 04 (bốn) người Trung Quốc, sau đó điều khiển xe quay về hướng Lạng Sơn nhưng khi đang di chuyển đến địa phận huyện TA, tỉnh Cao Bằng thì bị tổ công tác Công an huyện TA phát hiện ngăn chặn.

Hành vi đưa, đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam mà không làm thủ tục nhập cảnh theo quy định của pháp luật với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm pháp luật. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ phạm tội là nhằm mục đích hưởng lợi về kinh tế. Bị cáo đã lợi dụng sử quản lý của lực lượng chức năng còn gặp nhiều khó khăn, lựa chọn thời gian giao nhận người vào lúc nửa đêm, địa điểm vắng người để thực hiện. Do vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội với vai trò chỉ là người làm thuê, giúp sức, còn chủ mưu là người Trung Quốc có tài khoản Wechat “An toàn là bạn”; bị cáo không biết 04 người đàn ông Trung Quốc nhập cảnh khi nào mà chỉ biết chở thuê từ huyện QH, tỉnh Cao Bằng đến huyện HL, tỉnh Lạng Sơn để nhận tiền công. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội một phần do công việc của bị cáo là nhận chở dịch vụ và không có thu nhập ổn định; nhận thức pháp luật về lĩnh vực xuất nhập cảnh còn hạn chế, không lường trước được hậu quả của hành vi gây ra; một phần cũng do các công dân Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam và có nhu cầu di chuyển, đồng thời bị cáo được hứa hẹn trả tiền công cao nên mặc dù biết hành vi vi phạm pháp luật vẫn nhận thực hiện.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh chính trị tại khu vực biên giới, gây mất trật tự trị an địa phương. Việc bị cáo nhận đưa, đón công dân Trung Quốc trong nội địa Việt Nam không có sự kiểm soát của các cơ quan chức năng dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm cũng như làm phát sinh nhiều vấn đề an ninh trật tự phức tạp, đặc biệt xảy ra trong thời gian cả nước đang thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 và chỉ đạo của các ngành, các cấp về ngăn chặn, đấu tranh đối với các hành vi xuất, nhập cảnh qua biên giới.

Do vậy, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, nhằm mục đích răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

- Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, tích cực phối hợp với cơ quan điều tra để làm rõ tình tiết vụ án, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên Tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực phối hợp để làm rõ tình tiết vụ án. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại nơi cư trú nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Tuy nhiên cũng cần xử phạt bị cáo nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung.

Xét mứ c hinh pha ̣t do Kiểm sát viên đề nghi ̣ đối với các bị cáo là có căn

̀ cứ cần xem xét chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập không ổn định và chưa được hưởng lợi từ hành vi phạm tội, do vậy không cần thiết áp dụng một trong các hình phạt bổ sung trên đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

* Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại Iphone 11 Pro Max; 01 (một) điện thoại Masstel của Nguyễn Hoàng K là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

* Đối với những đồ vật, tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng K, như sau:

+ 01 (một) Chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Ngân hàng MB mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Ngân hàng BIDV mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Ngân hàng AGRIBANK mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ MASTERCARD mang tên Nguyễn Hoàng K.

- Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER, màu trắng. Xe gắn biển kiểm soát 12C - 103.51, kèm theo 01 (một) Đăng ký xe ô tô, thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng K: Từ những lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện, tuy chiếc xe ô tô đứng tên bị cáo Nguyễn Hoàng K là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, nhưng nguồn gốc chiếc xe này là do ông Nguyễn Văn C (bố của bị cáo) cho số tiền 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng) cộng với số tiền bị cáo bán chiếc xe cũ cũng là tiền ông Chiến cho để mua, bị cáo mua xe để sử dụng cho mục đích kinh doanh; chiếc xe là tài sản chung của gia đình, việc bị cáo sử chiếc xe này để thực hiện hành vi phạm tội ông Chiến và gia đình không biết, không có lỗi, do đó cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng K để sử dụng cho mục đích chung của gia đình là có căn cứ.

Về các vấn đề khác:

Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng K còn khai nhận trước đó trong tháng 9/2021 cũng được người dùng tài khoản wechat “An toàn là bạn” thuê lên Cao Bằng đón 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép chở đến huyện HL, tỉnh Lạng Sơn với số tiền 2.000.000 đồng. Ngoài lời khai của K, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, làm rõ lần phạm tội này nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng K phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.

Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hoàng K 30 (ba mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng K cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là Ủy ban nhân dân xã ĐĐ, huyện TĐ, tỉnh Lạng Sơn trực tiếp quản lý, giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng K có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu phát mại lấy tiền nộp vào ngân sách Nhà nước: 02 (hai) điện thoại di động của Nguyễn Hoàn K, gồm: 01 (một) điện thoại Iphone 11 Pro Max; 01 (một) điện thoại Masstel được niêm phong trong phong bì theo quy định.

* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng K các tài sản sau:

+ 01 (một) Chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Ngân hàng MB mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Ngân hàng BIDV mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ Ngân hàng AGRIBANK mang tên Nguyễn Hoàng K;

+ 01 (một) thẻ MASTERCARD mang tên Nguyễn Hoàng K.

+ 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER màu trắng. Xe gắn biển kiểm soát 12C – 103.51. Xe đã qua sử dụng. Số khung: MNCUMFF50GW551137. Số máy: P5AT2174451. Qua kiểm tra thực tế số khung, số máy của xe trùng khớp với phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 05/11/2021; kèm theo 01 (một) Đăng ký xe ô tô mang tên Nguyễn Hoàng K.

Xác nhận toàn bộ vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng tại Biên bản giao nhận vật chứng số 66 ngày 16 tháng 3 năm 2022.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Hoàng K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Hoàng K có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ