vanban.org

Bản án 29/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về áp dụng điều luật:

Về mức hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công H 01 ( một) năm 03 ( ba) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về áp dụng điều luật:
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HS- ST
Ngày 20- 5- 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Vân

Bà Dương Thị Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Trang- Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2022/TLST- HS ngày 13 tháng 4 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Công H, sinh năm 1989; huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản Tr, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H1; và bà: Phạm Thị H; có vợ: Lê Thị S và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: không

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang ( có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Thân Văn Th, sinh năm 1989; cư trú tại: Tổ dân phố M, thị trấn N, huyện Vi, tỉnh Bắc Giang ( vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Chị Lê Thị H, sinh năm 2002 ( vắng mặt).

2. Chị Cao Thị Thùy Ch, sinh năm 1990 ( vắng mặt).

3. Anh Đinh Quốc Th, sinh năm 1976 ( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 10 phút ngày 27/12/2021, tại khu vực cổng trường Tiểu học thị trấn N thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh Bắc Giang phối hợp cùng Công an thị trấn N, huyện V phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Công H, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Tr, xã Đ huyện Y, tỉnh Bắc Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và chất bột màu hồng đỏ thu tại dưới chân gần vị trí đang đứng của Nguyễn Công H được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT”.

Quá trình bắt quả tang thu giữ của Nguyễn Công H gồm: Số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, số ImeI 1: 354874103500229/01, số Imel 2: 354875103500226/01.

Sau khi bắt quả tang, cùng ngày 27/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Bắc Giang tiến hành xác định hiện trường là khu vực trước cổng trường Tiểu học thị trấn N thuộc Tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Vị trí phát hiện bắt giữ H là phía trước cổng trường, bên trái hướng từ cổng ra, cách cổng trường khoảng 15 mét, vị trí thu giữ đoạn ống nhựa có chứa chất ma túy cách tường bao của trường 05 cm, cách vị trí H đứng 40 cm. Quá trình xác định hiện trường đã tiến hành chụp ảnh và vẽ sơ đồ kèm theo.

Cùng ngày 27/12/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an tỉnh Bắc Giang tiến hành khám xét khẩn cấp nơi thuê trọ của Nguyễn Công H tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 27/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh Bắc Giang trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang giám định loại chất ma túy, khối lượng ma túy thu giữ được niêm phong trong phong bì thư “QT”.

Tại Kết luận giám định số 2110/KL- KTHS ngày 28/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “ Trong 01 ( một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng và chất cục bột màu hồng đỏ đựng trong 01 ( một) đoạn ống nhựa màu hồng được hàn kín hai đầu là ma túy, có khối lượng 0,223 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Nguyễn Công H khai nhận: Do nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 07 giờ ngày 27/12/2021, H đi bộ một mình đến cổng làng thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V gặp một người đàn ông ( H khai là anh Thân Văn Th, sinh năm 1989, trú tại: Tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V) để mua ma túy. Tại đây, H hỏi mua của anh Th 500.000 đồng tiền ma túy tổng hợp và được anh Th đồng ý bán, đồng thời bảo H ra ngã tư đường đứng đợi. H ra điểm hẹn, khoảng 10 phút sau anh Th quay lại đưa cho H 03 đoạn ống nhựa màu hồng, mỗi đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu bên trong mỗi đoạn đầu chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy dạng đá và chất cục bột màu hồng đỏ là ma túy dạng hồng phiến. H mang theo số ma túy vừa mua được đến khu vực nghĩa địa thuộc tổ dân phố M, thị trấn N một mình sử dụng hết 02 ống ma túy, còn lại 01 ống ma túy H cất vào túi quần bên phải đang mặc và đi về nhà trọ nghỉ. Khoảng 15 giờ cùng ngày 27/12/2021, H mang theo 01 ống ma túy trong túi quần bên phải đang mặc đi bộ một mình từ phòng trọ đến khu vực cổng trường tiểu học thị trấn N, huyện V thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Do sợ bị phát hiện mang theo ma túy nên H dùng tay phải cầm đoạn ống nhựa chứa ma túy lấy từ bên trong túi quần ra rồi thả xuống đất cách vị trí chân đang đứng 40 cm thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh Bắc Giang và Công an thị trấn N, huyện V phát hiện, mời người làm chứng tiến hành thu giữ, niêm phong số ma túy trên trong phong bì thư ký hiệu “QT”, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H.

Ngày 28/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Giang giao hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng Nguyễn Công H cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 31/12/2021, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số Imei 1: 354874103500229/01, Imei 2: 354875103500226/01 thu giữ của Nguyễn Công H, kết quả kiểm tra nội dung điện thoại không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.

Cáo trạng số 67/CT- VKSYD ngày 13 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Nguyễn Công H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên

Kết thúc thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá chứng cứ, đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công H từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2021.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 0,153 gam loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại Sam sung và 500.000 đồng nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016 Quốc Hội khóa 14 ngày 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định số 2110/KL- KTHS ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và các chứng cứ khác, có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 15 giờ 10 phút ngày 27/12/2021, tại khu vực cổng trường Tiểu học thị trấn N thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm - Công an tỉnh Bắc Giang phối hợp cùng Công an thị trấn N, huyện V phát hiện bắt quả tang Nguyễn Công H để 01 ống ma túy trong túi quần bên phải đang mặc. Do bị phát hiện mang theo ma túy, H dùng tay phải cầm đoạn ống nhựa chứa chất ma túy lấy từ trong túi quần thả xuống đất cách vị trí chân đang đứng 40 cm thì bị tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phát hiện, tổng khối lượng ma túy là 0,223 gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 67/CT- VKS ngày 13 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Nguyễn Công H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hiện nay tệ nạn ma túy ở khu công nghiệp xảy ra nhiều, Hội đồng xét xử thấy cần xét xử nghiêm khắc đối với H, áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật khi cân nhắc hình phạt.

[ 4] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thuộc hộ cận nghèo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Căn cứ lời khai của H, cùng ngày 27/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của anh Thân Văn Th, tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện Việt V, tỉnh Bắc Giang, kết quả thu giữ 01 căn cước công dân số 024089009228 mang tên Thân Văn Th do Cục quản lý hành chính và trật tự xã hội cấp. Cơ quan điều tra tiến hành làm việc, anh Thân Văn Th khai: Anh Th quen H quan mối quan hệ xã hội được khoảng 01 năm. Anh Th làm nghề rửa xe máy, ô tô cùng vợ tại khu vực cống chui dân sinh thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện Vi. Ngày 27/12/2021, anh Th thuê taxi của anh Trần Xuân Th1, sinh năm 1984; cư trú tại: Thôn Đ, xã S, thành phố B đi khu vực huyện Đ, thành phố Hà Nội để mua xe ba bánh. Trước và sau khi đi Hà Nội, anh chỉ ở quán rửa xe cùng vợ là chị Trần Thị H, sinh năm 1992 và ở nhà nghỉ ngơi. Trong ngày 27/12/2021, anh Th không gặp H, chưa bao giờ trao đổi mua bán với H. Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai chị H và anh Th1 kết quả lời khai của chị H và anh Th1 phù hợp với lời khai của anh Th. Cơ quan điều tra tiến hành đối chất giữa anh Th và H để làm rõ nhưng không có kết quả. Ngoài lời khai của H, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh ngày 27/12/22021, anh Th có hành vi bán ma túy cho H. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý anh Thân Văn Th là có căn cứ.

Về vật chứng:

01 căn cước công dân số 024089009228 mang tên Thân Văn Th, do Cục quản lý hành chính và trật tự xã hội cấp Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại anh Th là đúng pháp luật.

01 phong bì được niêm phong dán kín ký hiệu “ QT” bên trong chứa chất ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung số Imei 1: 354874103500229/01, Imei 2: 354875103500226/01 và 500.000 đồng là tài sản của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội, căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại bị cáo H nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Về áp dụng điều luật:

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự

Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 136, khoản 3 Điều 106, các Điều 331; 332, 333; 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2. Về mức hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công H 01 ( một) năm 03 ( ba) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2021.

Miễn hình phạt bổ sung.

3. Về vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong dán kín ký hiệu “ QT” bên trong chứa chất ma túy hoàn lại sau giám định.

3.2.Trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung số Imei 1: 354874103500229/01, Imei 2: 354875103500226/01 và 500.000 đồng nhưng được tạm giữ lại để đảm bảo việc thi hành án

4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế theo quy định tại điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơinhận:

Cỡ chữ