vanban.org

Bản án 29/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ng phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Ng 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29/10/2021. Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Lò Văn Nguyên - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ng phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 29/2022/HS-ST
Ngày 27-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Ông Lò Minh Ngọc.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Lò Văn Ng, sinh ngày 16/02/1995, tại Ít Ong, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Boi, sinh năm 1966 và bà Lò Thị Xuân, sinh 1976; chưa có vợ con; Tiền án: Tại bản án số 06/2020/HSST ngày 26/2/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa xóa án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/10/2021; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại:

Anh Vì Văn Xi, sinh năm 1976, địa chỉ: Tiểu khu 5, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt;

Anh Lò Văn Sơn, sinh năm 1984, địa chỉ: Tiểu khu 5, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt;

- Bị đơn dân sự:

Bà Vì Thị Hương, sinh năm 1979, địa chỉ: Tiểu khu 5, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lò Văn Ngôn, sinh năm 1993, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt;

Anh Lò Văn Phượng, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản Két, xã Tạ Bú, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lò Văn Ng bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ ngày 24/10/2021 Lò Văn Ng gặp bà Vì Thị Hương, sinh năm 1979, ở tiểu khu 5, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Vì Thị Hương bảo Lò Văn Ng đến nhà của anh Vì Văn Xi, sinh năm 1976, ở tiểu khu 5, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La lấy trộm chiếc máy cắt cỏ sẽ trả công cho. Lò Văn Ng đồng ý, đến khoảng 15 giờ cùng ngày Lò Văn Ng đến nhà của anh Vì Văn Xi thấy không người trông coi, Lò Văn Ng trèo vào trong nhà lấy 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Honda, màu đỏ. Sau khi lấy được mang về đưa cho Vì Thị Hương và được Vì Thị Hương trả cho Lò Văn Ng 100.000, đồng. Số tiền này Lò Văn Ng chi tiêu hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 27/10/2021 Lò Văn Ng đi qua khu vực nhà của anh Lò Văn Sơn, sinh năm 1984, ở tiểu khu 5, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La thấy không người trông coi, Lò Văn Ng đi vào trong gầm sàn nhà lấy 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu DRAGON, màu xanh, mang cất giấu ở ven đường. Sau đó về lấy xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS 26B1-323.68 của anh trai là Lò Văn Ngôn, sinh năm 1993, địa chỉ: Bản X, xã Y, huyện Mường La, khi lấy xe anh trai không biết. Lò Văn Ng chở máy cắt cỏ đến nhà anh Lò Văn Phượng, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản Két, xã Tạ Bú, huyện Mường La bán cho Lò Văn Phượng được 200.000, đồng, khi bán không nói là trộm cắp mà có. Số tiền này Lò Văn Ng chi tiêu hết.

Vụ thứ ba: Khoảng 16 giờ ngày 27/10/2021 Lò Văn Ng đi qua khu vực nhà của anh Vì Văn Xi, sinh năm 1976, ở tiểu khu 5, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La thấy không người trông coi, Lò Văn Ng đi vào trong nhà lấy 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai N120 loại 12V-120AH, mang cất giấu ở ven đường. Đến 12 giờ 30 phút ngày 28/10/2021 lấy xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS 26B1-323.68 của anh trai, khi lấy xe anh trai không biết. Lò Văn Ng chở ắc quy tìm nơi để bán thì bị phát hiện.

Người bị hại anh Vì Văn Xi, anh Lò Văn Sơn có đơn trình báo Công an về việc tài sản bị trộm:

Thu giữ vật chứng gồm:

2

01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Honda, màu đỏ;

01 máy cắt cỏ nhãn hiệu DRAGON, màu xanh;

01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai N120 loại 12V-120AH;

01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS 26B1-323.68;

Ngày 01/11/2021 Hội đồng định giá 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Honda, màu đỏ của anh Vì Văn Xi có giá trị là 600.000, đồng; 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu DRAGON, màu xanh của anh Lò Văn Sơn có giá trị là 600.000, đồng; 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai N120 loại 12V-120AH của anh Vì Văn Xi có giá trị là 1.500.000, đồng. Tổng trị giá là 2.700.000, đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lò Văn Ng đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Bản cáo trạng số: 04/CT-VKS-ML ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo:

Lò Văn Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Ng từ 10 đến 11 tháng tù.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Căn cứ khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho những người bị hại:

Anh Vì Văn Xi 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Honda, màu đỏ và 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai N120 loại 12V-120AH; anh Lò Văn Sơn 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu DRAGON, màu xanh.

Đối với anh Lò Văn Phượng, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản Két, xã Tạ Bú, huyện Mường La, khi mua bán chiếc máy cắt cỏ Lò Văn Ng không nói là trộm cắp mà có, anh Lò Văn Phượng yêu cầu phải bồi thường trả lại số tiền 200.000, đồng.

3

Đối với anh Lò Văn Ngôn khi bị cáo lấy xe hai lần đem chở tài sản trộm cắp đều không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lò Văn Ngôn 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS 26B1-323.68.

Đối với Vì Thị Hương là người thuê bị cáo Lò Văn Ng đến nhà anh Vì Văn Xi để lấy trộm máy cắt cỏ và sau khi lấy được máy cắt cỏ đã trả cho bị cáo Lò Văn Ng số tiền 100.000, đồng. Hành vi của Vì Thị Hương chưa đủ cấu thành tội trộm cắp, do Vì Thị Hương chưa có tiền án, tiền sự, tài sản dưới 2.000.000, đồng, Công an đã xử phạt hành chính.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tố tụng: Người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đề nghị xử vắng mặt, sự vắng mặt không ảnh hưởng đến giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt họ vẫn đảm bảo quyền lợi của họ.

. Tại phiên toà bị cáo Lò Văn Ng thừa nhận:

Ngày 24/10/2021 đã lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản là 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Honda, màu đỏ của anh Vì Văn Xi có giá trị là 600.000, đồng. Ngày 27/10/2021 đã lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu DRAGON, màu xanh của anh Lò Văn Sơn có giá trị là 600.000, đồng và 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai N120 loại 12V-120AH của anh Vì Văn Xi có giá trị là 1.500.000, đồng. Tổng trị giá bị cáo chiếm đoạt là 2.700.000, đồng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; đơn trình báo của những người bị hại, lời khai của người làm chứng, lời khai của

4

người liên quan, vật chứng của vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận định giá tài sản.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Lò Văn Ng đã bị kết án: Tại bản án số 06/2020/HSST ngày 26/2/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa xóa án tích, nay tiếp tục trộm cắp ba lần đều dưới 2.000.000, đồng.

Hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự an toàn xã hội do đó bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân không tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo sống lang thang, sử dụng ma túy, thường xuyên trộm cắp tại địa phương.

Về hình phạt Bổ sung - Phạt tiền: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.

. Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại:

Anh Vì Văn Xi 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Honda, màu đỏ và 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai N120 loại 12V-120AH; anh Lò Văn Sơn 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu DRAGON, màu xanh và những người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với anh Lò Văn Phượng, khi mua bán chiếc máy cắt cỏ do Lò Văn Ng không nói là trộm cắp mà có, anh Lò Văn Phượng yêu cầu bị cáo Lò Văn Ng phải bồi thường trả lại số tiền 200.000, đồng, cần chấp nhận.

Đối với anh Lò Văn Ngôn khi bị cáo lấy xe hai lần đem chở tài sản trộm cắp đều không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lò Văn Ngôn 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, BKS 26B1-323.68, cần chấp nhận.

Đối với Vì Thị Hương là người thuê bị cáo Lò Văn Ng đến nhà anh Vì Văn Xi để lấy trộm máy cắt cỏ và sau khi lấy được máy cắt cỏ đã trả cho bị cáo

5

Lò Văn Ng số tiền 100.000, đồng. Hành vi của Vì Thị Hương đã vi phạm pháp luật, nhưng chưa đủ cấu thành tội trộm cắp do Vì Thị Hương chưa có tiền án, tiền sự, tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000, đồng, Công an đã xử phạt hành chính là thỏa đáng. Vì Thị Hương là bị đơn dân sự đã nộp trả chiếc máy cắt cỏ trộm cắp, do anh Vì Văn Xi đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm, cần chấp nhận.

Được xác định số tiền 100.000, đồng do Vì Thị Hương trả cho bị cáo Lò Văn Ng là phạm tội mà có, bị cáo Lò Văn Ng đã chi tiêu hết, cần buộc bị cáo Lò Văn Ng nộp truy thu sung vào ngân sách Nhà Nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ng phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Ng 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29/10/2021.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại:

Anh Vì Văn Xi 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Honda, màu đỏ và 01 bình ắc quy nhãn hiệu Dongnai N120 loại 12V-120AH; anh Lò Văn Sơn 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu DRAGON, màu xanh và những người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Buộc bị cáo Lò Văn Ng phải bồi thường trả cho anh Lò Văn Phượng số tiền 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng).

Buộc bị cáo Lò Văn Ng nộp truy thu sung vào ngân sách Nhà Nước số tiền 100.000, đồng (một trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có đã chi tiêu hết.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lò Văn Ng phải chịu án 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000, đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/01/2022.

Người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ