vanban.org

Bản án 29/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 06/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HS -PT
Ngày 29 - 4 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Danh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành;

Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2022/TLPT-HS ngày 09 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo bị kháng nghị:

Nguyễn Thị H, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1956 tại thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố Cộng Hòa, thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đvà bà Đinh Thị N (đều đã chết); có chồng là Hà Kim Q (đã chết) và có 04 con; tiền án: Có 05 tiền án: Tại Bản án số 17/2011/HSST ngày 19/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt Nguyễn Thị H 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự; tại Bản án số 76/2013/HSPT ngày 16/9/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Thị H 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự; tại Bản án số 40/2015/HSST ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt Nguyễn Thị H 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”; tại Bản án số 58/2016/HSST ngày 28/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt Nguyễn Thị H 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”; tại Bản án số 56/2018/HSST ngày 29/05/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xử phạt Nguyễn Thị H 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/8/1999 bị Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản công dân”; tại Bản án số 17/2003/HSST ngày 19/02/2003 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Yên (nay là thành phố Vĩnh Yên) xử phạt Nguỵễn Thị H 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về “Tội trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 61/2003/HSST ngày 13/8/2003 của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) xử phạt Nguyễn Thị H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù treo của Bản án số 17/2003/HSST ngày 19/02/2003 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Yên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 18 tháng tù; hiện tại ngoại tại địa phương, “có mặt”.

- Bị hại:

+ Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1995; trú tại: Thôn Nội, xã Yên Bình, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

+ Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1993; trú tại: Thôn Vân Sau, xã Vân Hội, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

+ Chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1970; trú tại: Tổ dân phố Gạch, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hà Thị Thanh T, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố Cộng Hòa, thị trấn Hoa Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 04/9/2021 đến ngày 06/9/2021, Nguyễn Thị H đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại khu vực chợ Đồng Tâm thuộc phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 04/9/2021, H bắt xe bus từ xã Thái Hòa, huyện Lập Thạch đi xuống khu vực chợ Đồng Tâm, thuộc phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên với mục đích để trộm cắp tài sản. Khoảng hơn 07 giờ cùng ngày thì H đến nơi và đi bộ vào bên trong chợ. Quan sát thấy anh Nguyễn Văn L dựng xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm sát 88N1 - 569.07 ở phía trước quầy rau, bên tay lái trái xe máy có treo 01 túi màu hồng và đi vào trong quầy để mua hàng. H đã lấy trộm chiếc ví da màu nâu để bên trong túi màu hồng của anh L, sau đó đi ra phía cổng chợ mở ví lấy được số tiền 50.000 đồng và vứt bỏ chiếc ví cùng giấy tờ cá nhân của anh L.

Vụ thứ hai: Koảng 08 giờ ngày 04/9/2021, sau khi trộm cắp tài sản của anh L xong thì H tiếp tục đi đến quầy bán rau củ quả trong chợ Đồng Tâm quan sát thấy ở hốc để đồ xe máy nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 88K1 – 049.70 của chị Nguyễn Thị M có để 01 ví da màu nâu thấy không có người trông giữ nên đã trộm cắp chiếc ví. Sau đó H đi ra phía cổng chợ mở ví lấy được số tiền 300.000 đồng rồi vứt bỏ chiếc ví cùng giấy tờ cá nhân của chị M.

Vụ thứ ba: Khoảng hơn 07 giờ ngày 06/9/2021, H tiếp tục điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 88G1 - 106.17 đi từ nhà xuống khu vực chợ Đồng Tâm thuộc phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên để trộm cắp tài sản. Khi đi đến nơi, H dựng xe ở cổng chợ rồi đi bộ vào bên trong chợ. Đến quầy bán thịt thì thấy chị Nguyễn Thị Thu T đang điều khiển xe đứng chờ di chuyển do tắc đường, thấy trong túi áo chống nắng bên trái của chị Thanh có để 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung J4+ màu đen. Lợi dụng lúc đông người, H đã áp sát vào người chị Thanh, dùng tay phải trộm cắp chiếc điện thoại trên rồi đi ra phía cổng chợ và lấy xe máy đi về. Khi đi đến phía rìa cầu đối diện số nhà 152 đường Lý Thường Kiệt, phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, H tháo, vứt bỏ 02 chiếc sim bên trong máy, cất chiếc điện thoại vào túi quần bên phải đang mặc rồi tiếp tục quay lại chợ Đồng Tâm để trộm cắp tài sản thì bị quần chúng nhân dân phát hiện, bắt giữ và trình báo Cơ quan Công an.

Quá trình điều tra, Cơ quan Công an đã tạm giữ của Nguyễn Thị H chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 88G1 - 106.17, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C3 màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J4+ và 02 thẻ sim.

Tại Kết luận định giá tài sản số 165 ngày 10/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Vĩnh Yên kết luận: Trị giá của 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J4+ màu đen đã qua sử dụng là 1.000.000 đồng .

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, x khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21 tháng 02 năm 2022 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có kháng nghị số 219/QĐ-VKS-P7 đề nghị sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên theo hướng phải xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt đối với bị cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng kháng nghị đã nêu và đề nghị xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc trong thời hạn, đúng quy định được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Thị H trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vật chứng thu giữ được cùng các các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận trong hai ngày 04 và 06 tháng 9 năm 2021, tại khu vực chợ Đồng Tâm thuộc phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Thị H đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng trị giá là 1.350.000 đồng, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 07 giờ ngày 04/9/2021, Nguyễn Thị H trộm cắp của anh Nguyễn Văn L 01 chiếc ví da bên trong có 50.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 08 giờ ngày 04/9/2021, Nguyễn Thị H trộm cắp của chị Nguyễn Thị M 01 chiếc ví da bên trong có 300.000 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng 07 giờ ngày 06/9/2021, Nguyễn Thị H trộm cắp của chị Nguyễn Thị Thu T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J4+, có trị giá 1.000.000 đồng.

Tuy tài sản những lần trộm cắp đều có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ngoài 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” được sử dụng làm căn cứ để định tội lần này thì bị cáo còn có 02 tiền án về tội “Đánh bạc”, trong đó có một bản án kết án bị cáo về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” (Bản án số 40/2015/HSST ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch). Tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự có quy định “Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý” là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo phải là “Tái phạm nguy hiểm” chứ không phải là “Tái phạm” như cấp sơ thẩm đã xác định. “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung của tội trộm cắp tài sản nên bị cáo phải bị xét xử theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 173 và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 là không đúng.

Bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 đó là thành khẩn khai báo và có chồng là liệt sỹ nhưng phải chịu một tình tiết tăng nặng tại Điều 52 là phạm tội từ hai lần trở lên. Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Tuy mức hình phạt 01 năm 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhưng bị cáo chỉ được hưởng một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 (sau khi đối trừ một tình tiết tăng nặng) nên không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 để cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt. Vì vậy, cần phải tăng hình phạt đối với bị cáo cho đúng quy định của pháp luật.

Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là có căn cứ, đúng pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ sửa bản án sơ thẩm về áp dụng điểm, khoản và tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H như đã phân tích.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Về án phí: Viện kiểm sát kháng nghị nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2022/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, x khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ