vanban.org

Bản án 29/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 11/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thị Diễm K;

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 57/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Tuyên bố bị cáo Phan Thị Diễm K phạm tội “Môi giới cho người khác Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Diễm K phạm tội Môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thị Diễm K;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29 /2022/HS-PT
Ngày: 11/01/2022

NHÂN D

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phan Văn Y

Các Thẩm phán:

Ông Phan Tô Ng

Ông Nguyễn Văn M

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Ph, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh D, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 79/2021/TLPT-HS ngày 03 tháng 2 năm 2021 do có kháng kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2020/HS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh

Bị cáo có kháng cáo:

Phan Thị Diễm K, sinh năm 1989 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: tổ 2, ấp Trung Bình, xã Trung Lập Thượng, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Đ, sinh năm 1967 và bà Châu Thị Cẩm L, sinh năm 1969; chồng: Nguyễn Thành Ph1, sinh năm 1989 (đã ly hôn); con: 01 người, sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt tạm giam từ ngày 12-8-2020 cho đến nay; có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 16-6-2020, Công an xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh phát hiện và bắt giữ Phan Huy Tr, sinh năm 1975, ngụ ấp Vĩnh Thạnh D, xã Vĩnh Hòa, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang đang điều khiển xe ô-tô, biển kiểm soát 51H-099.53 chở 04 người Trung Quốc gồm: LI BING BING, sinh năm 1988; LIN SHUPENG, sinh năm 1994; WU JIN DONG, sinh năm 1983 và LIU JIAN PING, sinh năm 1988; từ Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh để giao lại cho Trần Văn H và Hồ Văn Th nhằm tổ chức xuất cảnh trái phép sang Campuchia.

Kết quả điều tra xác định: năm 2016, Phan Thị Diễm K kết hôn với người đàn ông Trung Quốc tên Khờ Ly và sang Trung Quốc sinh sống, đến năm 2019 trở về Việt Nam. Ngày 15-6-2020, Khờ Ly giới thiệu K với người đàn ông Trung Quốc (không rõ nhân thân lai lịch), nhờ K tìm người tổ chức đưa 08 người Trung Quốc đang ở Thành phố Hồ Chí Minh xuất cảnh sang Campuchia bằng đường tiểu ngạch và hứa trả công 1.000 nhân dân tệ (khoảng 3.200.000 đồng tiền Việt Nam). K điện thoại thuê Trần Văn H để đưa những người Trung Quốc sang Campuchia và H đồng ý. H điện thoại thuê Hồ Văn Th, Th nhận lời; sau đó Th kêu Trương Ngọc D cùng thực hiện; D đồng ý nhận người đưa sang Campuchia với tiền công 7.000.000 đồng/01 người đồng thời yêu cầu mỗi lần chỉ đưa được 05 người Trung Quốc và thời gian đi vào ban đêm. Sau đó, D rủ Lê Văn Qu và Cao Văn Ph2 cùng thực hiện việc tổ chức đưa 05 người Trung Quốc xuất cảnh trái phép sang Campuchia.

Sau khi được Th nhận lời, H thông báo cho K biết thỏa thuận tiền công 8.000.000 đồng/01 người và yêu cầu K cho thêm 1.000.000 đồng tiền mua card điện thoại để liên hệ; K đồng ý giá tiền. Sau đó, H điện thoại thuê Phan Huy Truyền đón 05 người Trung Quốc từ khu vực huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh chở đến khu vực xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh với tiền xe 1.000.000 đồng, Truyền đồng ý.

Đến khoảng 22 giờ 00 ngày 15-6-2020, Truyền điều khiển xe ô-tô, biển kiểm soát 51H-099.53 chở 05 người Trung Quốc đến khu vực ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giao cho Th, D, Qui, Phùng tổ chức đưa xuất cảnh sang Campuchia trái phép bằng đường mòn. Trong đó, Th và D làm nhiệm vụ cảnh giới lực lượng chức năng, Phùng và Qui trực tiếp dẫn 05 người Trung Quốc đi bộ theo đường bờ ruộng sang Campuchia.

Sau khi tổ chức đưa 05 người Trung Quốc sang Campuchia thành công, đến sáng ngày 16-6-2020, K chuyển cho H số tiền 41.000.000 đồng vào tài khoản số 050116275624 của Lê Chí Th, sinh năm 1982, nơi cư trú: ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh mở tại Ngân hàng Sacombank, Chi nhánh huyện Gò Dầu (do H mượn của Thanh trước đó để cung cấp cho K). Sau khi nhận tiền, H nhờ Thanh rút toàn bộ số tiền ra rồi trả cho Th 35.000.000 đồng, H hưởng lợi số tiền 6.000.000 đồng. Th trả cho D 28.000.000 đồng; D đưa cho Qui 7.000.000 đồng và D đưa cho Phùng 1.000.000 đồng. Riêng Cao Văn Ph, sau khi được Qui chia 1.000.000 đồng tiền công, do sợ bị lực lượng chức năng phát hiện, nên Ph nói với Qu không tham gia tổ chức đưa người xuất cảnh sang Campuchia nữa.

Khoảng 17 giờ ngày 16-6-2020, K tiếp tục điện thoại thuê H đưa 03 người Trung Quốc gồm: LI BING BING, LIN SHUPENG, WU JIN DONG xuất cảnh sang Campuchia. Sau khi thỏa thuận với Th, H đồng ý nhận và thỏa thuận với K tiền công, thời gian tổ chức đưa đi như lần trước. Đồng thời, H điện thoại thuê Phan Huy Truyền đón 03 người Trung Quốc từ khu vực huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh chở đến khu vực ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bền Cầu, tỉnh Tây Ninh với tiền công 1.000.000 đồng. Cùng thời gian này, Th được một người phụ nữ (chưa xác định nhân thân lai lịch), sử dụng số điện thoại Campuchia điện thuê đưa 01 người Trung Quốc tên LIU JIAN PING, sinh năm 1988, địa chỉ: Ký túc xá Nông Cơ, huyện Lâu Phiền, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây từ Thành phố Hồ Chí Minh sang Campuchia với số tiền 7.000.000 đồng; Th đồng ý và thuê Truyền đến khu vực quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đón LIU JIAN PING đưa đến khu vực ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh với tiền công 500.000 đồng. Sau đó, Th điện thoại thông báo cho D, rồi D điện thoại thông báo cho Qui biết để cùng thống nhất thực hiện tổ chức đưa những người Trung Quốc xuất cảnh sang Campuchia.

Khoảng 18 giờ ngày 16-6-2020, Phan Huy Truyền điều khiển xe ô-tô, biển kiểm soát 51H-099.53 đến khu vực quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đón LIU JIAN PING (do Th thuê), sau đó đến khu vực đường Nguyễn Ảnh Thủ, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đón LI BING BING, LIN SHUPENG, WU JIN DONG (do H thuê), rồi chở 04 người đến khu vực ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh để giao cho H và Th thì bị Công an xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu bắt giữ như đã nêu trên.

Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Tây Ninh tiến hành kê biên tài sản của Cao Văn Phùng quyền sử dụng đất diện tích 479,7 m2 thuộc thửa số 428, tờ bản đồ số 58; tọa lạc tại ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; kê biên tài sản của Lê Văn Qui quyền sử dụng đất diện tích 7.892 m2 thuộc các thửa số 1566 đến 1571, tờ bản đồ số 8; tọa lạc tại ấp Rừng Dầu, xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 57/2020/HSST ngày 24-12-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:

Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 348; điểm l khoản 1 Điều 52; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Thị Diễm K 06 (sáu) năm tù về tội “Môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12-8-2020.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 5 bị cáo khác, các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04/01/2021, bị cáo Phan Thị Diễm K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bán án hình sự sơ thẩm số 57/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Bị cáo Phan Thị Diễm K bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép”. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Nội dung: Tại phiên Tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm được tóm tắt nêu trên.

Nhận định của Hội đồng xét xử: ngày 15/6/2020 và ngày 16/6/2020, được sự môi giới của Phan Thị Diễm K, Trần Văn H cùng Hồ Văn Th, Trương Ngọc D, Lê Văn Qui đã 02 lần tổ chức đưa 09 người Trung Quốc xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Campuchia để thu lợi. Trong đó, H hưởng lợi 6.000.000 đồng, Th hưởng lợi 7.000.000 đồng, D hưởng lợi 20.000.000 đồng, Qui hưởng lợi 7.000.000 đồng, bị cáo Phùng tham gia 01 lần hưởng lợi 1.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo: Trần Văn H, Hồ Văn Th, Trương Ngọc D, Lê Văn Qu và Cao Văn Ph đã phạm vào tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”, còn hành vi của bị cáo Phan Thị Diễm K đã phạm vào tội “Môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép”. Tội D và hình phạt được quy định tại các điểm b,c khoản 2 Điều 348 Bộ luật hình sự năm 2015 mà cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội.

Xét về phần lượng hình: hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng tình hình dịch bệnh để phạm tội và phạm tội từ 02 lần trở lên, đối với từ 05 đến 10 người. Trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực quản lý xuất, nhập cảnh và làm mật trật tự an ninh khu vực biên giới nên cần nghiêm trị để góp phần đảm bảo an ninh trật tự và phòng ngừa lây lan dịch bệnh Covid 19 trên địa bàn. Trong vụ án này có tất cả 06 bị cáo nhưng chỉ có 01 bị cáo là Phan Thị Diễm K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét vai trò của bị cáo K trong vụ án này.

Xét thấy, hành vi của bị cáo K là làm môi giới, trung gian, cầu nối theo yêu cầu của người xuất cảnh Việt Nam trái phép (người đàn ông Trung Quốc chưa rõ lai lịch) với người có khả năng tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép (bị cáo H). Tổng cộng đã thực hiện việc môi giới 02 lần cho 08 người Trung Quốc xuất cảnh trái phép, được hứa trả công 3.200.000 đồng nên bị cáo phải chịu mức án ngang bằng với bị cáo H. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự thú khai ra lần phạm tội trước đó nên được áp dụng các điểm s,r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tường xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 57/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Do kháng cáo của của bị cáo K không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự

năm 2015

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thị Diễm K;

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 57/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Tuyên bố bị cáo Phan Thị Diễm K phạm tội “Môi giới cho người khác

xuất cảnh trái phép”

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 348, điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm 1

khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt bị cáo Phan Thị Diễm K 06 (sáu) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/8/2020.

Tiếp tục tam giam bị cáo Phan Thị Diễm K để đảm bảo thi hành án.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Phan Thị Diễm K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các thẩm phán

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Phan Tô Ng

Nguyễn Văn M

Phan Văn Y

Cỡ chữ