vanban.org

Bản án 29/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 17/10/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST
Ngày 17-10-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Đình Khiêm;

2. Bà Nguyễn Thị Tố Linh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên

toà: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình

Thuậnxét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/2022/TLST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày

05 tháng 10 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tú N, sinh năm 1994; địa chỉ: 3 N, khu phố

C, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Đỗ Hải Đ, sinh năm 1989; Quốc tịch: Hoa Kỳ; Số hộ chiếu:

540456229, cấp ngày 26/01/2016 tại Hoa Kỳ; địa chỉ: D, L, KY D, USA.

Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng của ông Đ: Ông

Huỳnh Hồng P, sinh năm 1990; địa chỉ: Số D, khóm I, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú N trình bày:

Bà và ông Đỗ Hải Đ là vợ chồng căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 27,

quyển số 01 do UBND thị xã L, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 08/5/2017.

Sau khi kết hôn, hai người sống hạnh phúc không được bao lâu thì bắt đầu

phát sinh nhiều vấn đề. Nguyên nhân chủ yếu do khoảng cách địa lý quá xa. Từ khi kết hôn, ông Đ về Việt Nam được khoảng 05 lần. Từ năm 2020 đến nay, ông Đ không về Việt Nam nữa dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, ngày càng nhạt dần.

Từ ngày ông Đ không trở về Việt Nam cho đến nay, bà và ông Đ rất ít liên

lạc, giữa hai người không còn quan tâm, chăm sóc hay chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống nữa.

Bà tự nhận thấy tình cảm vợ chồng nay không còn nữa, đời sống vợ chồng

không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên việc chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa bà và ông Đ lúc này là thật sự cần thiết.

Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà được ly hôn với ông Đỗ Hải Đ.

- Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

*Tòa án đã ủy thác tư pháp cho Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ để

tống đạt tài liệu, văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn ông Đỗ Hải Đ, tuy nhiên trước khi Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ có văn bản trả lời thì ông Đỗ Hải Đ trở về Việt Nam và có bản tự khai trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Tú N là vợ chồng căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn

số 27, quyển số 01 do UBND thị xã L, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 08/5/2017.

Từ khi kết hôn, ông chỉ về Việt Nam được khoảng 05 lần. Từ năm 2020

đến nay, ông không về Việt Nam nữa, do khoảng cách địa lý quá xa dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, ngày càng nhạt dần. Hiện ông sinh sống và làm việc ở Hoa Kỳ, còn bà N sinh sống tại Việt Nam. Ông tự nhận thấy tình cảm vợ chồng nay không còn nữa, đời sống vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Lần này ông về Việt Nam thì nghe thông tin bà N yêu cầu ly hôn ông, cũng phù hợp với ý kiến của ông. Vì vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, ông có ý kiến:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Tú N.

- Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng

đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều

56, khoản 2 Điều 123, khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Tú N. Bà Nguyễn Thị Tú N và ông Đỗ Hải Đ đều trình bày giữa hai người không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại

phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú N khởi kiện yêu

cầu ly hôn với bị đơn ông Đỗ Hải Đ nên Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp “Tranh chấp ly hôn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú N đang cư

trú tại tỉnh Bình Thuận khởi kiện bị đơn ông Đỗ Hải Đ hiện đang cư trú ở Hoa Kỳ nên căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú N và bị đơn ông Đỗ Hải Đ đều có đơn

xin xét xử vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông Đ.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú N và ông Đỗ Hải Đ kết hôn

trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27, quyển số 01 do UBND thị xã L, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 08/5/2017. Theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, bà N và ông Đ đều trình bày sau khi đăng ký kết hôn ông Đ

sinh sống ở Hoa Kỳ, còn bà N vẫn sinh sống ở Việt Nam, khoảng cách địa lý quá xa, cuộc sống mỗi người mỗi nơi, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Cả bà N và ông Đ đều đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ giữa hai bên không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho bà Nguyễn Thị Tú N và ông Đỗ Hải Đ được ly hôn.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Tú N và

ông Đỗ Hải Đ đều trình bày giữa hai bên không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Tú N phải chịu chi phí dịch thuật,

chi phí ủy thác tư pháp (bao gồm cả số tiền 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008033 ngày 10/3/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận) theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị Tú N đã nộp đủ số tiền này.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tú N là nguyên đơn nên phải chịu án phí

hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; điểm c khoản 1 Điều 40;

khoản 4 Điều 147; Điều 153; khoản 1 Điều 228; điểm c khoản 6 Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 9; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 123; khoản 1

Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị

Tú N.

1. Bà Nguyễn Thị Tú N được ly hôn với ông Đỗ Hải Đ.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Tú N phải chịu chi phí dịch thuật,

chi phí ủy thác tư pháp (bao gồm cả số tiền 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008033 ngày 10/3/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận) theo quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị Tú N đã nộp đủ số tiền này.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tú N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn

nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu tiền số 0008025 ngày 03/3/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. Bà Nguyễn Thị Tú N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Bà Nguyễn Thị Tú N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Ông Đỗ Hải Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ