vanban.org

Bản án 29/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Y được ly hôn Anh Trần Văn H.

Về con chung: Giao cho Anh Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 11-8-2012 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Y có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với Anh H là 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Y và anh H ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Y được ly hôn Anh Trần Văn H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN D
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30-12-2022
về việc ly hôn, tranh chấp về con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quang Thương

2. Ông Đặng Kim Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hưng - Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hằng- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 44/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 484/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 521/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Y, nơi ĐKHKTT: Tổ 6, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn H; nơi cư trú: Tổ 6, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặtt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Phạm Thị Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và Anh Trần Văn H kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã. Từ năm 2017, chị đã về nhà bố mẹ đẻ sống, chị và Anh H sống ly thân nhau đến nay. Nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn Anh Trần Văn H.

Về con chung: Vợ chồng có có 01 con chung là cháu Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 11-8-2012. Kể từ khi vợ chồng ly thân, cháu Nhi vẫn sống chung cùng Anh H và ông bà nội. Do con chung đang ăn ở sinh hoạt ổn định với Anh H cùng gia đình Anh H nên chị đồng ý để Anh H tiếp tục nuôi dưỡng. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với Anh H 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cũng như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Anh H nhưng Anh Trần Văn H không cung cấp lời khai, không đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị Phạm Thị Y. Tòa án đã tiến hành xác minh về mâu thuẫn vợ chồng tại địa phương nơi vợ chồng sinh sống và xác minh mâu thuẫn qua gia đình Anh Trần Văn H.

Trước khi mở phiên tòa, chị có đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như trong quá trình giải quyết vụ án; tại phiên toà, Anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho chị Y được ly hôn Anh H. Về con chung: Đề nghị giao cho Anh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 11-8-2012; vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Y có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với Anh H là 2.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, không đề nghị xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đư¬ợc thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Chị Phạm Thị Y có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng giải quyết ly hôn với Anh Trần Văn H cư trú tại Tổ 6, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử, chị Y và Anh H đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng chị Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ các điều 227, điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Y và Anh H.

- Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phạm Thị Y và Anh Trần Văn H xây dựng gia đình với nhau năm 2011, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ tại nơi chị Y, Anh H cư trú và tại gia đình Anh H xác định: Chị Y và Anh H xảy ra mâu thuẫn đã lâu, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017, không còn quan tâm tới nhau. Nay, chị Y làm đơn xin ly hôn, Anh H không cung cấp lời khai, cũng không có đề nghị hay có giải pháp gì để vợ chồng hòa giải đoàn tụ, vợ chồng đã sống ly đã lâu. Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình: "1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác". Căn cứ vào quy định của pháp luật và thực tế, có thể thấy hai bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Y về việc xin ly hôn Anh H là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.

- Về con chung:

Hội đồng xét xử xét thấy, qua xác minh tại địa phương, đại diện gia đình và qua lời trình bày của cháu Nhi đều cho thấy: Anh H có đủ điều kiện nuôi con chung, cháu Trần Thị Quỳnh N đang ăn ở cùng Anh H và ông bà nội nhiều năm nay nên giao cho Anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp và nguyện vọng của con, phù hợp quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị Y tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với Anh H 2000.000 đồng/tháng kể từ tháng 01-2023 đến khi đủ 18 tuổi là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

- Về tài sản chung:

Chị Y và Anh H không yêu cầu giải quyết,

- Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Chị Phạm Thị Y là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Chị Y và Anh H đều vắng mặt được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, các điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; các điều 28, 35, 39, 147, 207, 227, 228, 238 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Y được ly hôn Anh Trần Văn H.

2. Về con chung: Giao cho Anh Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 11-8-2012 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Y có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với Anh H là 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 01-2023 đến khi con đủ 18 tuổi.

Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay mặc dù có thể bị khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, khi Anh H có đơn yêu cầu thi hành án, chị Y chậm thi hành khoản tiền cấp dưỡng nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn.

3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Y phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0002851 ngày 12 tháng 10 năm 2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố Hải Phòng. Chị Y đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Y và Anh Trần Văn H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ