- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh Thúy:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST Ngày: 25/5/2022. V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.
Các hội thẩm nhân dân:
1.Bà Đinh Thị Hạnh
2.ông Nguyễn Thanh Bình.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Thảo Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 109/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 3 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thanh Thúy, sinh năm: 2001. Nơi cư trú: Ấp 2, xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Lê Minh Đức, sinh năm: 2000. Nơi cư trú: Số 30, đường Nguyễn Du, khu phố 1, TT.Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa: nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 05/5/2022; bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 06/5/2022.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 08/3/2022, biên bản tự khai, biên bản không hòa giải được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh Thúy trình bày: Chị và anh Đức tự nguyện tìm hiểu được 1 năm thì đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai vào năm 2020. Sau khi kết hôn thì anh chị về tại nhà cha mẹ chị ở xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai ở cùng. Anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh Đức thường xuyên ăn nhậu, không chăm lo cho gia đình. Anh chị đã ly thân từ đầu năm 2021 cho đến nay. Khi ly thân thì chị ở nhà cha mẹ chị tại xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, còn anh Đức về nhà cha mẹ anh tại TT.Đức Tài ở. Khi mâu thuẫn xẩy ra thì anh chị tự hòa giải chứ không nhờ chính quyền địa phương hòa giải.
- Về con chung: Lê Đức Thắng, sinh ngày 21/01/2021.
Hiện nay con (Thắng) đang ở cùng chị, khi anh chị ly thân thì anh Đức không hề chu cấp tiền, vật chất khác để nuôi con, cũng không hề thăm con. Nay chị yêu cầu được nuôi con (Thắng) không yêu cầu anh Đức phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có
Theo bản tự khai ngày 06/5/2022 có trong hồ sơ, bị đơn Lê Minh Đức trình bày: Anh và chị Thúy tự nguyện tìm hiểu đi đến kết hôn. Sau khi kết hôn thì anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh chị không hợp tính tình, thường xuyên cãi vã. Nay chị Thúy làm đơn khởi kiện ly hôn thì anh đồng ý.
- Về con chung: Lê Đức Thắng, sinh ngày 21/01/2021.
Khi ly hôn thì anh đồng ý giao con (Thắng) cho chị Thúy nuôi dưỡng
- Về tài sản chung và nợ chung: anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, lập và gửi các văn bản đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự luật định. Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng. Vì vậy HĐXX, xét xử vắng mặt các đương sự là đúng pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Vì vậy Hội đồng xét xử nên cho ly hôn.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thanh Thúy nuôi cháu Lê Đức Thắng, sinh ngày 21/01/2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 08/3/2022 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thị Thanh Thúy có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 05/05/2022; anh Lê Minh Đức có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 06/5/2022. Hội đồng xét xử xét thấy rằng nội dung và hình thức của đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.
Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Nguyễn Thị Thanh Thúy và anh Lê Minh Đức có đăng ký kết hôn vào ngày 27/11/2020 tại UBND xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh.
Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh đến đầu năm 2021 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là anh chị tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, không tin tưởng lẫn nhau làm cho tình cảm vợ chồng sứt mẻ. Thấy rằng, lời khai của anh chị là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nay chị Thúy xác định không còn tình cảm với anh Đức nữa và cương quyết ly hôn. Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ nhưng không thành, cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thúy là đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Xét thấy chị Thúy là người có sức khỏe, có tư cách đạo đức tốt, có nghề nghiệp thu nhập ổn định. Cháu Lê Đức Thắng, sinh ngày 21/01/2021 hiện dưới 36 tháng tuổi. Chị Thúy lại có nguyện vọng trực tiếp được yêu cầu nuôi con. Vì vậy Hội xét xử quyết định giao con (Thắng) cho chị Thúy được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quyền thăm nom con: Để bảo đảm quyền lợi cho các cháu được phát triển tốt về thể chất và tinh thần, nhận được tình yêu thương đầy đủ từ cả cha lẫn mẹ, cần xem xét tuyên quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi chị Thúy ly hôn với anh Đức. Anh Lê Minh Đức phải chấp hành đúng quy định về việc thăm nom con tại khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: anh chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị Thư là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.
Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp vợi nội dung vụ án.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Áp dụng Điều 51, 56 và Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh Thúy:
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh Thúy ly hôn anh Lê Minh Đức
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thanh Thúy được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Lê Đức Thắng, sinh ngày 21/01/2021
Anh Lê Minh Đức có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Nguyễn Thị Thanh Thúy trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Lê Minh Đức trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
3. Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thanh Thúy phải chịu 300.000đồng án phí DSST, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Thúy đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0009242 ngày 15/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị Thúy đã nộp đủ án phí DSST.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đức Linh; - Thi hành án DS huyện Đức Linh; - Các đương sự; -UBND xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai -Lưu hồ sơ, quyết định./. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Xuân Thuận |